Monday, August 6, 2012

Curiosity đáp an toàn xuống sao Hỏa

Curiosity đáp an toàn xuống Hỏa Tinh

Cập nhật: Hà X. Thụ      Tham khảo: Howstuffwork

Chiếc xe Curiosity 2,500 triệu đô la lao xuống Hỏa Tinh ngày 5 tháng Tám 2012 với tốc độ 13,000 dặm một giờ nhưng đã đáp xuống an toàn với những kỹ thuật tân kỳ mô tả tại video >> Landing

Nếu cần tìm một hành tinh có tồn tại sự sống hay xa hơn, có đủ điều kiện cho con người sinh sống sau này, "người láng giềng" Sao Hỏa luôn là một cái tên được nhắc đến rất nhiều. Có những điều kiện tự nhiên gần gũi với Trái đất, sao hỏa đôi khi được cho có hoặc chí ít là đã từng tồn tại sự sống. Một điểm quan trọng hơn, Sao Hỏa là một hành tinh rất gần Trái đất, gần đủ để chúng ta có thể tiến hành các cuộc thăm dò trực tiếp trên bề mặt hành tinh này.



Tổng quát

Về căn bản không khác nhiều một xe tải 6 bánh loại nhỏ. Tuy nhiên, chiếc xe tải này lại chạy bằng năng lượng hạt nhân, dò đường bằng tia laser, 6 bánh xe có khả năng thay đổi độ cao để di chuyển trên những địa hình phức tạp một cách linh hoạt, được "tặng kèm" một tên lửa và có giá khoảng 2,5 tỷ đô.


Mẫu xe này dài gấp đôi (khoảng 3 mét) và nặng gấp 5 lần (khoảng 900 kg) so với kỷ lục trước đây của chính Nasa, chiếc Spirit and Opportunity (2003). 6 bánh xe, mỗi bánh bằng thép có đường kính 20" (51 cm) có khả năng vượt qua những chướng ngại vật cao 30" (khoảng 75 cm), có khả năng di chuyển khoảng 200 mét mỗi ngày trên Sao Hỏa.



Chiếc xe có đủ trang thiết bị để đào, phá đá đất đá, thu thập mẫu vật, sắp xếp vào phân tích chúng. Hệ thống laser có khả năng tự động chỉnh hướng của Curiosity được thiết kế để tìm ra sự tồn tại của các hợp chất hữu cơ (có chứa carbon), xác định tỷ lệ của các đồng vị và phân loại chúng. Và nổi bật hơn cả, là hệ thống động cơ hạt nhân, được trang bị nhằm đảm bảo hoạt động của chiếc xe trong thời gian dài.

Theo Rob Manning, kỹ sư trưởng bộ phận thiết kế thiết bị bay tại Jet Propulsion Laboratory gọi đây là thứ "phức tạp, tinh tế nhất chúng tôi đã từng làm ra".

Ngoài những khó khăn về mặt kỹ thuật trong việc sản xuất và thiết kế, Nasa còn gặp không ít khó khăn trong việc đưa chiếc máy này lên Sao Hỏa bởi độ chính xác và những khó khăn trong việc hạ cánh một thiết bị phức tạp, nặng gần 1 tấn là không nhỏ.

 Một cỗ máy hoàn hảo

Sẽ thực hiện một nhiệm vụ kéo dài khoảng hai năm (hoặc nhiều hơn) trên sao hỏa nhưng Curiosity gặp những vấn đề không khác gì chúng ta gặp trong một chuyến đi du lịch 2 tuần nhưng khó khăn hơn nhiều. Nếu như một chiếc xe chẳng may cần bổ sung gì đó, chúng ta chỉ đơn giản là mua linh kiện, lắp cho nó. Nếu xe hỏng, một cú điện thoại bạn sẽ có ngay người sửa xe. Nếu ta chẳng may quên kem đánh răng, ta có thể và bất cứ một tiệm tạp hóa nào, mua một tuýt.

Nhưng Curiosity thì không như vậy, khi bạn thực hiện một nhiệm vụ cách đất mẹ cả trăm triệu km, bạn sẽ không thể gọi một đội sửa chữa, không thể tiếp tế "xăng dầu" ... Mọi tín hiệu chỉ huy từ Trái Đất sẽ mất khoảng 14 phút để đến nơi, khi đó, bạn phải tự lực cánh sinh.

Tất nhiên, Curiosity đến Sao Hỏa không phải để thực hiện một chuyến du lịch với kinh phí 2,5 tỷ đô. Nhiệm vụ của chiếc xe đắt giá này là thu thập các mẫu đất đá từ bề mặt sao hỏa và phân tích trực tiếp bằng tại hiện trường.

Nó được trang bị một camera cao 2,1 mét. 3 cánh tay với chiều dài tương đương có khả năng thu thập mẫu vật nhiều hơn một chiếc máy hút bụi công nghiệp.

Mẫu vật này sẽ được được xử lý, sắp xếp, sàng lọc bởi một hệ thống các linh kiện phức tạp, tinh vi:

- 1 sắc phổ khí nhỏ và một quang phổ kế lớn nhằm phân tích và tính toán các thành phần hóa học trong mẫu vật.

- 1 quang phổ kế laser có khả năng tìm các hợp chất hữu cơ (trong thành phần có carbon), xác định cấu trúc và tỷ lệ các đồng vị quan trọng. Cả hai điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc khám phá các bí mật của khí quyển và thạch quyển của sao hỏa.

- CheMin, một thiết bị nhiễu xạ X-ray, và các dụng cụ huỳnh quang, đo thành phần các mẫu vật với số lượng lớn và tìm ra thành phần khoáng chất cấu thành chúng.

- Một camera cực kỳ cao cấp được đặt trên cánh tay của robot này. Chiếc camera này có nhiệm vụ chụp ảnh đất, đá , và cả băng nếu tồn tại. Nó có khả năng chụp close up (chụp cận cảnh) ở mức không thể tưởng tượng được: nó có khả năng ghi lại chính xác những hình ảnh của mẫu vật mỏng hơn cả sợi tóc người hoặc focus và những vật thể ở những vị trí mà những cánh tay không có khả năng chạm tới.


- Các quang phổ kế Alpha Particle cũng được đặt trên các cánh tay robot sẽ đánh giá các yếu tố khác nhau hiện diện trong đất và đá sao hỏa.

- Một camera cao cấp ở vị trí cao ngang bằng với mắt người, có khả năng chụp ảnh hoặc quay video có chất lượng cao kèm cả âm thạnh. Chiếc camera này được gọi là Mars Science Laboratory Mast Camera, giúp cho người điều khiển có thể nhìn thấy các mẫu vật được thu thập bằng cánh tay.

- Một camera gắn ở dưới giúp phát hiện các chướng ngại vật nguy hiểm dưới thân của chiếc xe này.

- Một thiết bị cực hiện đại gắn trên cổ của Curiosity có khả năng làm bốc hơi lớp vỏ ngoài của mẫu vật ở độ cao tới 9 mét (bằng tia lazer). Việc này làm tăng tính hậu quả của việc phân tích bằng quang phổ kế. Ngoài ra, nó cũng có khả năng chụp ảnh từ rất xa bằng kính thiên văn tích hợp của mình.



Ngoài những công cụ phân tích mẫu vật, chiếc xe này còn được tích hợp các tiện ích nhằm kiểm tra cả điều kiện bề mặt, phân tích các yếu tố liên quan để đánh giá khả năng tồn tại sự sống tại hành tinh đỏ.

- Radiation Assessment Detector (Thiết bị đánh giá bức xạ) sẽ theo dõi mức độ bức xạ bề mặt.

- Rover Environmental Monitoring Station: thiets bị đánh giá môi trường sẽ đọc áp suất khí quyển, nhiệt độ, độ ẩm, gió, mức độ bức xạ của tia cực tím.

- Dynamic Albedo of Neutrons: công cụ giúp phát hiện hydro - một dấu hiệu tiềm năng của nước đá hoặc nước ngầm bị kẹt trong các khoáng chất. Nó có khả năng hoạt động và tìm kiếm ở độ sâu khoảng 1 mét.

Tất cả những thiết bị trên đều thuộc hàng cao cấp, hiện đại nhất mà con người đang có được. Tuy nhiên, có một điều là tất cả hệ thống này ngốn một nguồn năng lượng khổng lồ và động cơ của Curiosity cũng thực sự là một điều đáng chú ý.

Động cơ nguyên tử

Không giống như những chiếc xe thông thường sử dụng gas, xăng hoặc các nhiên liệu hóa thạch. Cũng không dùng điện hay khí đốt. Cũng không dùng pin năng lượng mặt trời giống như người tiền nhiệm, lần này, Nasa sử dụng động cơ hạt nhân cho "con quái vật" của thế giới khoa học.

Curiosity lấy năng lượng từ phản ứng phân hạch plutonium-oxid. Khi phân rã, nó tạo thành một lượng nhiệt lớn sẽ được Curiosity sử dụng để chuyển thành điện năng phục vụ cho hoạt động của mình. Thiết bị được gọi là Multi Mission Radioisotope Thermoelectric Generator này sẽ kiểm soát năng lượng sử dụng ở mức 110 watts.

Hệ thống năng lượng kể trên cung cấp một lượng năng lượng nhiều hơn hệ thống pin mặt trời mang lại và không có bộ phận nào chuyển động. Điều này sẽ hạn chế khả năng bị hỏng hóc. Nhưng liệu hệ thống này có tốt hơn hệ thống cũ sử dụng panel gallium-arsenide hay không?

Hãy nhớ, Spirit hoạt động cho đến tận mùa xuân năm 2012 và Opportunity vẫn tiếp tục sử dụng các công cụ đo lường của chúng, đã di chuyển 21 dặm (100 mét mỗi ngày), vượt qua kỳ vọng 90 ngày của Nasa.

Hệ thống năng lượng hạt nhân của Curiosity, dự kiến, sẽ tồn tại được 14 năm - vượt qua cả tuổi thọ của chính chiếc xe. Nó sẽ không bao giờ trở thành nạn nhân của các trận bão Sao Hỏa, ban đêm, mùa đông... (có ít ánh sáng Mặt Trời) như người tiền nhiệm của nó đã phải chịu đựng.

Tuy nhiên, nguồn năng lượng khổng lồ này cũng phải đánh đổi không ít: nó nặng nề hơn người tiền nhiệm, tốc độ tối đa của chiếc xe chỉ bằng phân nửa. Trong một năm Sao Hỏa (khoảng 687 ngày Trái Đất), nó chỉ có thể di chuyển một quãng đường 12 dặm (khoảng 19 km).

Kiểm tra quá trình Curiosity lên Sao Hỏa

Khi thực hiện một nhiệm vụ trị giá 2,5 tỷ USD, rõ ràng, kỳ vọng đặt lên Curiosity là rất lớn và họ không có quyền thất vọng,  trước khi chính thức thực hiện nhiệm vụ ngày 26/11 vừa qua, nó đã trải qua rất nhiều cuộc thử nghiệm.

Chiếc xe này phải trải qua một loạt các cuộc thử nghiệm mô phỏng các lỗi cả bên trong lẫn bên ngoài, bao gồm cả những thử nghiệm bằng máy ly tâm, thả thử nghiệm, kéo kiểm tra, lái xe kiểm tra, kiểm tra tải, kiểm tra chịu lực và thử nghiệm các mạch trong xe. Điều này đảm bảo chắc chắn chuyến đi sẽ diễn ra một cách an toàn.

Quá trình phóng cũng không hề đơn giản. Phải biết rằng quỹ đạo quanh mặt trời của hai hành tinh rất khác nhau (sao hỏa là 686.98 còn Trái Đất là 365.25) điều này tức là khoảng cách tương đối giữa hai hành tinh rất khác biệt.

Lúc gần nhất, trái đất chỉ cách hành tinh đỏ khoảng 55,7 triệu km trong khi khoảng cách xa nhất lên tới 400 triệu km - hơn gấp 7 lần. Vì vậy, các nhà khoa học phải chọn thời điểm sao cho khoảng cách giữa hai hành tinh là gần nhất. Cuối cùng, "siêu xe" của chúng ta sẽ mất khoảng 255 ngày trước khi đến Sao Hỏa

 Quá trình hạ cánh

Quá trình hạ cánh an toàn một cỗ máy nặng cả tấn trong điều kiện khí quyển của Sao Hỏa mỏng hơn rất nhiều so với Trái Đất gặp rất nhiều khó khăn. Với những cỗ máy nặng khoảng 1 tấn và khí quyển mỏng như ở Sao Hỏa, phương án hạ cánh bằng dù truyền thống tỏ ra không hiệu quả lắm.

Ngay sau khi hạ cánh, những bánh xe này sẽ đưa "con quái vật" đến địa điểm đầu tiên của nó trên Sao Hỏa: một vách đá lộ thiên được gọi là "The Fence". Nasa chọn đây là nơi hạ cách bởi lần thăm dò trước cho thấy đây là một nơi rất có khả năng tồn tại nước.

Sau đó, Curiosity sẽ khám khá vách đá này và các khu vực lân cận. Quá trình này có thể mất nhiều năm và các nhà khoa học sẽ có một bức tranh toàn cảnh về khu vực này. Ngoài ra, Curiosity còn có nhiệm vụ phân tích trực tiếp các mẫu vật ngay trên bề mặt sao hỏa và gửi thông tin về trung tâm của Nasa.

Nhằm giúp Curiosity sử dụng hiệu quả tối đa năng lượng, Nasa đã cải thiện hệ thống bánh xe và khung gầm của nó. Sử dụng các ống nối titan và những lớp nhôm mỏng, giúp 6 bánh xe của nó chịu lực tốt hơn và có khả năng lún xuống như cao su. Tất cả bốn bánh xe có thể xoay 90 độ, giúp chiếc xe có thể quay mình tại chỗ nếu cần. Các kỹ sư cũng tăng cường hệ thống treo giúp cho Curiosity có khả năng vượt qua những địa hình gồ ghề và phức tạp hơn.

Saturday, August 4, 2012

w2. Khoa học

201 Biến cố 2011 ở lò nguyên tử Nhật Bản
202 Email tiếng Việt thật dễ dàng
203 Người cực kỳ giỏi toán
204 Phóng xạ điện hạt nhân Nhật đã điều chỉnh
205 5 xe tốn ít xăng nhất ở Mỹ
206 Link đo tốc độ Internet phát đi
207 Graphene sẽ biến đổi thế giới
208 Máy giặt mới chỉ cần 1 cúp nước
209 Helium-3 sẽ thay thế khi cạn dầu
210 Tòa nhà cao nhất thế giới
211 Xa lộ nghệ thuật của Na Uy
212 Curiosity đáp an toàn xuống sao Hỏa
213 Máy cắt cỏ bên Đức
214 15 phút ráp xong xe BMW
215 Nghệ thuật thủy tinh
216 Tránh xa Computers Trung Quốc
217 Nguồn gốc tiếng Việt Nam
218 Biến tảo thành dầu chỉ 1 phút
219 Nàng Robot Asuna sắp biết tình 
220 Đường cao tốc dưới đáy biển 
221 Tin tặc mò đến rạc gáo tỉ đô la
222  
223  
224  
225  
226  
227  
228  
229  
230  
231  
232  
233  
234  
235  
236  
237  
238  
239  
240  
241  
242  
243  
244  
245  
246  
247  
248  
249  
250  
251  
252  
253  
254  
255  
256  
257  
258  
259  
260  
261  
262  
263  
264  
265  
266  
267  
268  
269  
270  
271  
272  
273  
274  
275  

Nụ cười cứu mạng

Nụ cười cứu mạng

Trích từ Phạm Đ. Mậu's email       Trình bày: Hà X. Thụ

Kể từ một tháng nay tôi “ghiền” chạy bộ. Mưa gió hay cảm thấy mệt mỏi đến đâu, tôi cũng đều cố gắng chạy. Sáng không chạy thì chiều cũng chạy. Phần thưởng dành cho tôi thật lớn: lượng đường trong máu của tôi đã xuống đến mức bình thường.

Cách đây ba năm, đọc kết quả thử máu của tôi, bác sĩ gia đình của tôi giữ tôi lại và bắt tôi nốc nguyên một ly nước đường. Hai tiếng đồng hồ sau tôi trở lại để thử máu. Sau khi coi kết quả, như một quan tòa, bác sĩ dõng dạc “tuyên án”: ông bị tiểu đường lọai 2. Tôi thấy rụng rời tay chân. Nghĩ đến những người có đôi bàn chân tím ngắt hoặc bị cưa chân, cụt ngón hoặc bị mù lòa, tôi thấy như trời sắp đổ xuống trên tôi.

Bác sĩ cho toa để tôi mua thuốc Diaformin và dụng cụ thử máu mỗi ngày. Thử máu thì tôi thử nhưng uống thuốc thì tôi gật đầu cho có lệ. Mua thuốc về, tôi cất kỹ trong tủ. Tôi đã có kế hoạch tự chữa bệnh của mình: kiêng cữ và tập thể dục. Đây là hai “liều thuốc” có sẵn trong tầm tay và chẳng tốn kém bao nhiêu mà lâu nay tôi xem thường. Thế là trong một tháng liền, tôi ăn uống theo đúng sách vở dành cho những người bị tiểu đường và tập thể dục mỗi ngày. Lượng đường trong máu của tôi đã xuống đến mức của một người bị tiểu đường được coi là “kiểm soát” một cách “rất tốt” (very good diabetic control). Đúng một tháng sau, tôi đi gặp bác sĩ và khoe thành tích của mình. Bác sĩ khen lấy khen để. Nhưng thói thường, sự tự mãn dễ làm cho con người vấp ngã.

Tưởng mình đã thoát khỏi nguy biến, tôi bắt đầu lơ là trong việc kiêng cữ và tập thể dục và cũng chẳng thèm thử máu thường xuyên làm gì cho “tốn” máu. Cách đây một tháng, tôi xin thử máu tổng quát và trở lại gặp bác sĩ. Lần này, khi bác sĩ cho xem kết quả thử máu, tôi mới tá hỏa tam tinh. Lượng đường trong máu của tôi lên cao chưa từng thấy. Bà bác sĩ trẻ người Tàu lại cho toa mua thuốc và nắm tay tôi dặn dò rất kỹ: ông phải uống thuốc! Bà còn trấn an tôi: có người uống thuốc ba lần một ngày có sao đâu!

Lần này thì tôi “vâng lời” bác sĩ và uống đúng ba ngày. Lượng đường có xuống, nhưng bù lại tôi phải chịu một số hiệu ứng phụ như chóng mặt, muốn mửa. Cứ tưởng suốt những năm tháng cuối đời phải lệ thuộc vào thuốc và sống trong tình trạng này tôi thấy lo. Tôi tự trách mình: không chịu kiêng cữ trong việc ăn uống và ngồi quá nhiều trước màn ảnh vi tính.

Hình ảnh của cha tôi lại hiện về. Suốt một đời, cha tôi không hề biết đến một phòng mạch của bác sĩ hay bất cứ một viên thuốc Tây nào. Hết ra ruộng, cha tôi lại làm vườn và đi bộ. Mỗi ngày, sau bữa ăn chiều, ông uống ba viên thuốc lô hội (Aloe vera) mua trong tiệm thuốc Bắc. Sau 75, thiếu thốn mọi bề, vậy mà cha tôi cũng trở thành người thọ nhứt trong làng và qua đời ở tuổi 95.

Không biết có nhờ cha tôi phù hộ không mà trong những ngày xuống tinh thần nhứt vì biết mình bị tiểu đường, trong khi tìm hiểu về căn bệnh này, tôi đọc được trong tạp chí Reader’s Digest, ấn bản Úc châu, số ra tháng Tư vừa qua, một bài viết về “5 thực phẩm có thể cứu thế giới” (five foods that may save the world).

Đứng hàng thứ hai trong 5 thực phẩm “cứu rỗi” này là trái khổ qua (người miền Bắc Việt nam gọi là mướp đắng. Trong Anh ngữ, trái này có tên là Bitter Melon). Trái khổ qua có chứa chất “charantin” có khả năng giúp tiếp nhận Insulin do tuyến tụy tiết ra và điều hòa lượng đường trong máu. Năm 2007, Bộ Y Tế của Phi luật tân đã công nhận dược tính trên đây của trái khổ qua và cho áp dụng vào việc chữa trị bệnh tiểu đường loại 2.

Như lênh đênh giữa biển khơi mà quơ được phao cứu hộ, tôi liền ngưng uống Diaformin và thử dùng trái khổ qua. Sẵn dịp một ông bạn tặng cho một mớ khổ qua loại cực kỳ đắng và trồng theo phương pháp tự nhiên, nghĩa là không dùng phân hóa học hay thúc cho mau lớn, tôi liền bắt tay vào việc tự chữa trị. Mỗi ngày tôi ăn sống nửa trái. Đắng cỡ nào tôi cũng rán nhai và nuốt. Ngoài ra tôi cũng tìm mua trà khổ qua để uống mỗi ngày thay nước. Sau đúng 3 tuần lễ ăn và uống trà khổ qua, cộng với kiêng cữ và chạy bộ mỗi ngày, lượng đường của tôi đã xuống đến mức của một người không bị tiểu đường.

Tôi không biết yếu tố nào mang lại kết quả trên đây. Tôi tin ở phép lạ của trái khổ qua. Tôi cũng nhìn thấy hiệu quả của sự kiêng cữ. Nhưng phần thưởng lớn nhứt tôi lại gán cho một giờ chạy bộ mỗi ngày. Với tôi, chẳng có thuốc tiên nào có thể thay thế cho sự kiên trì vận động. Một giờ chạy bộ mỗi ngày cũng mang lại cho tôi một niềm vui đủ lớn để sống một ngày.

Người Úc trong vùng tôi ở rất thích thể dục. Bờ hồ gần nhà tôi có lẽ là nơi gặp gỡ nhộn nhịp nhứt vào buổi sáng và buổi chiều. Xung quanh bờ hồ sát gần mé nước với chu vi cũng đến cả hơn chục cây số có một con đường xi măng chỉ dành riêng cho người đi bộ và xe đạp. Một giờ chạy bộ với tốc độ vừa phải của một người đã “thấy đời xanh rêu” như tôi chỉ vừa đủ để chào hỏi chừng 2,3 chục người đi hoặc chạy bộ mỗi buổi sáng.

Chỉ cần một cái gật đầu, một lời chào và nhứt là một nụ cười thôi cũng đủ cho tôi thấy muốn sống một ngày. Người Úc ở vùng tôi sống, ai cũng có thói quen chào hỏi người xa lạ. Hầu như ngày nào tôi cũng tính nhẩm: có đến 99 phần trăm những người tôi gặp khi chạy bộ đều dành cho tôi một câu chào hỏi, dĩ nhiên theo một công thức quen thuộc và hơn một nửa sẵn sàng nhoẻn miệng cười. Nhưng trong số những người tôi gặp mỗi ngày, cảm động nhứt vẫn là nụ cười của một cụ già ngày nào cũng ngồi chờ ở trạm xe buýt gần khu tôi ở. Tôi đoán có lẽ cụ là cư dân của khu “tự lo” (self care) trong viện dưỡng lão cũng gần nhà tôi. Ngày nào cũng vậy, hễ mỗi lần thấy tôi chạy qua trước mặt, cụ đều chào hỏi, kèm với một nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ và nhứt là đưa tay như ra hiệu khuyến khích tôi chạy cho khỏe. Tôi “ghiền” chạy bộ mỗi ngày có lẽ cũng vì nụ cười của cụ già này.

Tôi đọc được ở đâu đó một giai thoại về văn hào Pháp Antoine de Saint Exupéry. Ông từng là một phi công trong thời Đệ nhị thế chiến. Chính từ những năm tháng này mà ông đã viết ra truyện ngắn có tính tự thuật với tựa đề “Nụ cười” (Le sourire).

Trong câu truyện, ông thuật lại việc ông bị quân Đức quốc xã bắt làm tù binh và bị đối xử một cách tàn bạo. Ông viết: “Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm quẹt. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một cai tù. Tôi gọi: “Xin lỗi, anh có lửa không?” ...Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là một viên cai tù Phát xít nữa, mà chỉ còn là một con người. Anh ta hỏi tôi: “Anh có con chứ?” Tôi đáp: “Có” và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhòa lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khóa và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười” (x. Hanoch McCarty, Short Stories to warm the heart).

Tôi vẫn luôn tâm niệm về những gì người ta thường viết về nụ cười. “Giá của một nụ cười rẻ hơn tiền điện, thế nhưng nụ cười tỏa sáng nhiều hơn hàng trăm bóng đèn. Không ai nghèo đến nỗi không thể nở nổi một nụ cười. Cũng chẳng ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác.

Một nụ cười, vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ. Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười. Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình. Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái. Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí hoang mang. Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi lẽ không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười” (khuyết danh).

Dĩ nhiên, cười cũng có 36 vạn cái cười khác nhau. Có cái cười phải trả bằng cái giá của cả một đế quốc như cái cười của nàng Bao Tự thời Đông Chu liệt quốc. Có cái cười của bạo chúa Nero khi cho nổi lửa đốt thành Lamã để có cái cớ bách hại các tín hữu Kitô tiên khởi...Gần đây, có cái cười chỉ có thể làm cho thế giới văn minh muốn nôn mửa đó là cái cười của những tên khủng bố người Nam Dương khi ra trước tòa để bị xét xử vì tội đặt bom sát hại những người vô tội.

Nhưng loại bỏ những cái cười ngạo nghễ, độc ác và điên cuồng ấy đi, người ta thấy nụ cười nào cũng đều là gạch nối tự nhiên giữa con người với nhau. Cười là muốn đi vào cái phần sâu thẳm nhứt của tâm hồn mà không gì có thể đạt tới được. Cười có sức tước đoạt mọi vũ khí tàn độc nhứt trong con người. Bên dưới cái vỏ ngụy tạo của mỗi người là một “cung thánh” bất khả xâm phạm. Đó là nơi duy nhứt để gặp gỡ nhau, liên kết với nhau bên kia ranh giới của hận thù, đố kỵ, sợ hãi hay chiến tranh. Chính nơi đây mà văn hào Saint Exupéry và người cai tù Phát xít đã gặp nhau và gặp nhau nhờ một nụ cười.

Tác giả Hanoch McCarty, khi bình về truyện ngắn “Nụ cười” của Saint Exupéry, đã nêu lên câu hỏi: “Tại sao chúng ta cười khi gặp một bé thơ?” Và tác giả đã trả lời: “Có lẽ vì chúng ta thấy được một tâm hồn tinh sạch không vướng mắc trong bất cứ một lớp vỏ bọc nào. Chúng ta biết và cảm thấy nụ cười của trẻ thơ là một nụ cười chân thực, không lừa dối và tâm hồn trẻ thơ trong chính chúng ta mỉm cười đáp trả một cách say sưa”.

Nụ cười chân thực luôn có tính lây lan.Thấy ai đó cười một cách chân thực, chúng ta không thể không cười đáp trả. Tôi thường nghĩ đến nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Nhìn ngài, tôi mới hiểu được hình tượng của Phật Di Lặc. Tôi cho rằng với Phật Giáo, đời không chỉ là bể khổ. Đời cũng đáng để vui hưởng, để cười và để trao cho nhau nụ cười hơn là thù hận hay buồn phiền.

Nhìn nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tự dưng tôi cũng muốn làm một phật tử. Dĩ nhiên theo cách thế của tôi hay ít ra theo tinh thần của nhà lãnh đạo tinh thần này. Cuộc sống có quá nhiều phúc lành cần được vui vẻ đón nhận và chia sẻ với mọi người. Ngay cả bệnh tật, xét cho cùng, cũng là một phúc lành. Nhờ nó mà ta biết cảm thông với người khác hơn. Nhờ nó mà ta cũng biết cảm thông với bản thân hơn. Và dĩ nhiên, cũng nhờ nó mà ta được tôi luyện để biết mỉm cười với cuộc đời.


Thursday, August 2, 2012

Hà Nội sau tháng Tư 75

Hà Nội sau tháng Tư 75

Từ:  Pitan 44's  email   &   trình bày : Hà X Thụ


Sau khi xuống ga Hàng Cỏ, tôi đáp xe điện tới phố Huế, và đẩy cửa vô nhà của chị tôi vào một buổi trưa trung tuần tháng 5 năm 1975. Giống như tất cả những căn nhà ở Hà Nội sau 1954, nhà của chị tôi cũng phải chia 5 xẻ 7 cho hàng chục gia đình cán bộ của nhà nước cư ngụ miễn phí…..

Chị tôi quay ra, nhìn thấy tôi, sững sờ không nói... Tôi thoáng thấy rất nhanh trong ánh mắt của chị sự xúc động, thêm vẻ hoảng hốt, phập phồng, giống như mắt của một con thỏ đang bị săn đuổi...

Chị không chào, không hỏi, không ôm chầm lấy tôi mà hỏi han, khóc lóc, như tôi đoán. Trái lại, chị tôi hoàn toàn im lặng, bước vội ra ngoài cửa bếp, lấy tay đẩy tôi vô trong bếp, rồi đứng đó im lìm bất động, nhìn xuống cầu thang nghe ngóng động tĩnh. Sau vài phút trôi qua trong im lặng, chị tôi quay vô hỏi tôi, giọng thì thầm:

- Cậu vô đây có người nào thấy không?

Trong tích tắc, tôi hiểu ngay thân phận của tôi, hoàn cảnh của chị, và cả một mạng lưới an ninh nguy hiểm rình rập bủa vây với tiêu chuẩn, mỗi người dân phải là một người công an. Tôi lắc đầu, cốt để trấn an chị.

Ngay sau đó, chị tôi ra dấu cho tôi đi theo chị vô trong phòng riêng của vợ chồng chị. Đóng cửa lại thật nhẹ nhàng, chị quay lại hỏi, giọng hơi gắt, vẻ phật ý:

- Sao cậu không đi đi, còn quay về đây làm gì?

Tôi hơi bàng hoàng trước thái độ xa cách, lạnh lùng của chị. Có lẽ nhận ra được điều đó, chị tôi hơi hối hận:

- Cậu ngồi đây, tôi đi pha nước chanh cậu uống...


Tôi cảm động. Thì ra, chị tôi vẫn còn nhớ sở thích uống nước chanh đường của tôi. Tôi vội cản chị lại:

- Cảm ơn chị, em không khát...

Chị tôi lại nhắc lại câu hỏi:

- Sao cậu không trốn đi ngoại quốc? Giờ này cậu còn về đây làm gì nữa?

Tôi xúc động:

- Em muốn về gặp thầy lần cuối trước khi em đi...

Chị tôi trả lời, nghe như một tiếng than:

- Thầy mất rồi em ơi!

- Thầy mất bao giờ ?

Tiếng nói của chị tôi nghe như gió thoảng: "Thầy mất năm 1974..."

- Em tính.... về thăm mộ thầy!

Chị tôi giật mình, thảng thốt:

- Lạy Chúa... Cậu về đó bây giờ là tụi nó bắt cậu ngay!

Tôi chùi nước mắt:

- Em về đêm, làm sao chúng biết mà bắt!

Chị tôi lắc đầu nói giọng cương quyết:

- Cậu không được về. Cậu dại dột lắm. Cậu không được ở Miền Bắc này thêm giờ phút nào nữa. Đây toàn là rắn rít, hổ báo không cậu ơi. Cậu ở đây thêm giờ phút nào là nguy hiểm giờ phút đó. Cậu nghe chị, nếu cậu có thương thầy, thì phải vô Nam ngay. Người ở trong đó, dù sao người ta cũng có tình.... không mất hết nhân tính như người ngoài này. Còn ở ngoài này là cậu chết. Cậu nghe lời chị, đi ngay đi. Chị sẽ thay mặt cậu, thắp nhang trên mộ thầy...

Tôi trả lời, ngắn gọn nhưng cương quyết:

- Em phải về thăm mộ thầy rồi đi đâu em mới đi.

Thấy tôi cương quyết chị tôi vừa khóc vừa nói trong nước mắt:

- Cậu đi bao nhiêu năm rồi mà sao cậu vẫn ương bướng như vậy hở cậu?... Thôi thì cậu không nghe lời chị thì chị xin cậu hãy thương chị, thương anh, thương các cháu... Cậu về thăm mộ thầy lỡ bề gì, chúng nó bắt được là liên luỵ đến tất cả mọi người. Đi tù hết thôi cậu Chí ơi!... Thầy ơi... Chúa ơi, sao con khổ thế này?...

Nghe chị nói vậy, tôi mới giật mình. Thì ra, từ khi bước vào căn nhà của chị, tôi chỉ nghĩ đến tôi, nghĩ đến lòng kính yêu của tôi dành cho thầy, mà không nghĩ đến sự an nguy của những người thân thương ruột thịt của mình.

Tôi đứng dậy, đặt tay lên đôi vai gầy còm vẫn còn đang run rẩy trong tiếng nấc của chị tôi:

- Chị.... Em... xin lỗi chị!...

- Chị cho em gửi lời chào anh và các cháu. Bây giờ em đi ngay…..

Chị tôi giật mình, ngước cặp mắt đầm đìa nước mắt, tóc rối bù, bao phủ những đường nét méo mó, đau khổ trên gương mặt:

- Lạy Chúa, cậu đi đâu?

- Em đi... để khỏi liên luỵ đến anh, chị và các cháu...

Chị tôi vẫn úp mặt trong lòng bàn tay của tôi, giọng thì thầm, nhưng tôi nghe rất rõ:

- Ở lại đây ăn với anh chị và các cháu một bữa cơm. Chị sẽ mua rau cần xào tỏi, mua cá rô chiên...

Tôi xúc động quá, nước mắt tôi lại ứa ra dàn dụa... Tôi hít một hơi dài, giữ cho lòng thật bình tĩnh. Tôi hiểu trong hoàn cảnh thương tâm, đầy xúc động này, nếu tôi chiều theo lòng mình, tôi sẽ ở lại, để được hưởng những giây phút đầm ấm của gia đình xum họp... Nhưng rồi chuyện gì sẽ xảy ra, cho tôi, cho anh chị và ….

Vì vậy, ngay sau khi chị đi chợ mua đồ ăn, không một lời từ giã, không một dòng chữ ly biệt, tôi cũng âm thầm chùi nước mắt, lặng lẽ lủi thủi rời khỏi nhà chị …..

Đó là vài trích đoạn hồi ký 260 trang của Hữu Nguyên. Muốn xem trọn hãy bấm vào: Tôi Tìm Tự Do