Showing posts with label Hải Quân. Show all posts
Showing posts with label Hải Quân. Show all posts

Thursday, June 11, 2015

Huy hoàng biệt thự Thanh Tâm

Huy hoàng rực rỡ biệt thự Thanh Tâm
Hà Xuân Thụ
Cám ơn bạn Thanh Tâm vẫn nhớ đến tôi, người bạn cũ Hải Quân. Tâm vẫn còn giữ hình đám cưới tôi với nàng MyRna Soriano xinh đẹp. Và nhân dịp nghỉ hè vùng nắng ấm Thanh Tâm nhắc tôi nhớ ghé thăm nhà.

Thụ, Tâm, Telo, Phước
Nghe đồn đã lâu bạn Thanh Tâm xây một tư gia huy hoàng để rước phu nhân diễm lệ của mình zìa cung. Cho nên tôi đã cùng bạn Telo và AET Đặng Quang Phước lại xem nhà.
Thanh Tâm và phu nhân  

Cẩm Nhung, bạch hổ, Thụ
Biệt thự Thanh Tâm quá huy hoàng rực rỡ, nếu ở New York hoặc Cali giá chắc phải 5 triệu đô.  Nhà lót toàn bằng gạch marble trắng tuyệt đẹp nhập cảng từ Pháp. Thanh Tâm xây cả một thang máy trong nhà.

Dùng thang máy 
Biệt thự xây trên đồi 3 tầng cao hơn 30 feet, mặt sau nhà nhìn xuống hồ có cầu tàu riêng. Và hệ thống điện đang treo chiếc thuyền tình xinh sắn trên một hồ nước lớn.
Thuyền tình lơ lửng
Chúc mừng gia đình bạn Thanh Tâm những ngày sung sướng hiện tại để bù lại những ngày tháng cũ phục vụ ở Năm Căn, Cà Mau nơi trâu bò phải vào mùng ngủ nếu không muỗi đốt chết hoặc thời gian tù cải tạo.

Wednesday, April 22, 2015

Bác Huy Kiên số đại quí

Bác Huy Kiên số đại quí

Hà Xuân Thụ

Sau 48 năm chưa gặp kể từ khi anh rời quân trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang năm 1966, bác Huy Kiên nay đã trở thành một Computer Guru. Như trong tháng 10/2014  Kiên đã thực hiện 2 videos  họp mặt miễn phí  cho cả hai khóa, K15 và K16.

Trước đó vào tháng 5/14  chúng tôi rất mừng gặp lại nhau, Kiên load cho tôi những softwares quí hiếm mà tôi tìm hoài không ra. Trên màn hình vi tính Kiên chỉ vào một Icon tên SBL hỏi là gì. Tôi nói đó là Select Best Life, một software tự tôi chế ra từ năm 1990 để  xem xét và tiên đoán cuộc đời của rất nhiều người nổi tiếng trong thế giới. Nhân tiện để cám ơn Kiên và chứng minh mình không nói dóc tôi gõ ngày sinh nhật của  vợ chồng Kiên  vào SBL.

Ít lâu sau SBL cho ra 3 điểm dương tối ưu của ba thử nghiệm đầu tiên:
1.- Hôn nhân cực tốt: 100/100
2.- Vợ chồng hòa hợp yêu nhau: 100/100
3.- phúc lợi cho & nhận từ vợ chồng: 100/100

Tôi cho Kiên biết vì ba thử nghiệm đầu tiên đều có điểm dương hết nên đó phải là một hôn nhân tốt đẹp, ngoài ra lại đạt điểm số tối đa cho nên trong nhiều triệu cặp hôn nhân cũng khó tìm. Số này cực k tốt đẹp giống như vợ chồng Bush cha (6Dec24),  hoặc vợ chồng Nhật hoàng Akihito (23Dec33) vẫn còn đang sống.

Lúc đó vợ bác Kiên cũng về nhà nghe tôi đoán số liền hỏi đến gia đình của hai người con. Sau khi cho vào  Select Best Children Test  thì  SBL lại cho ra Kiên được thêm 200 điểm dương nữa vì Kiên ở trong vị trí sinh nhập từ hai người con này.

Tôi nói Kiên nên đi mua vé số vì cặp vợ chồng Mark & Cind Hill trúng số 293 triệu đô. Họ phải đợi mãi cho đến khi có được sinh nhập của đứa con gái nuôi rất quí từ Đại Hàn qua sống chung thì tiền bạc mới đổ vào nhà.


Ít lâu sau chúng tôi ra xe đến nhà bạn cũ Nguyễn Văn Sinh. Quãng đường khá dài nên dần dần mọi chuyện được anh chị Kiên tiết lộ khi tôi không ngớt lời tán thưởng cái số cực tốt của hai người.

Chị Kiên cho biết ngày 30/4 chị phải nghe lời bên chồng ở lại VN lo lắng cho Kiên trong tù cải tạo sau đó mới cùng nhau vượt biên. Bây giờ đã thành đạt con trai thấy Kiên đi lại nhiều nên đã sắm tặng bố một xe SUV rất xịn 35 ngàn đô. Vợ chồng Kiên bây giờ ở chung với gia đình của hai con vui vầy các cháu nội ngoại tại hai cái villa mới tinh nằm cách nhau có 3 block đường.

Trên diễn đàn có chuyện rất thương tâm bất nhẫn như ở Bolsa có người Việt tha hương vất  bỏ cha mẹ quá già đã lạc trí ngoài đường phố hoặc trước cổng chùa. So sánh mới thấy vợ chồng Kiên quả có số đại quí khi con cái rất hiếu thảo, ai về già chả mong được như thế nhưng mà dễ gì, cho nên vợ chồng bác cứ an tâm sung sướng hưởng thụ tuổi già.

Friday, October 12, 2012

Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và Hải Quân VNCH


Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và Hải Quân VNCH

Tác giả: Phan Lạc Tiếp và trích từ Nguyễn D. Quan’s email

Tôi xin gửi tới những ai yêu mến và tiếc thương Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh một bài viết phong phú và đôn hậu về cuộc đời của ông.

30 năm trước đây, cảm khái trước cuộc lên đường hào hùng của Hoàng Cơ Minh, thi sĩ Giang Hữu Tuyên đã sáng tác tặng ông bài thơ “Bông Bưởi Chiều Xưa”, nhạc sĩ Châu Đình An đã phổ nhạc bài thơ này và diễn tả bằng giọng hát mượt mà những giòng thơ nhạc nên thơ và hùng tráng đó…

http://amnhac.fm/index.php/nhac/C/134-chau-dinh-an/655-bong-buoi-chieu-xua/7782-bong-buoi-chieu-xua






1935 Sinh tại Hà Nội
1955 Tốt nghiệp Khóa 5 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang
1955-1962 Ðảm nhận nhiều trách vụ trên chiến hạm và đơn vị bờ
1962-1964 Chỉ Huy Trưởng Phân Ðội IV. Trục Lôi Hạm
1964-1966 Tùy Viên Quân Sự tại Hán Thành/Nam Hàn
1966-1968 Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 1
1969 Tốt nghiệp Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp / Ðà Lạt
1969-1971 Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh Hải Quân
1971-1974 Tư Lệnh Lực Lượng Thủy Bộ 211
1974 Vinh Thăng Phó Ðề Ðốc Hải Quân
1974-1975 Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải, Kiêm Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm 21
1975 Tị nạn tại Hoa Kỳ
1976-1978 Sáng lập Lực Lượng Quân Nhân Việt Nam Hải Ngoại
1979 Sáng lập Lực Lượng Quân Dân Việt Nam Hải Ngoại
1981 Rời Hoa Kỳ về khu chiến
1980-1987 Chủ Tịch MTQGTNGPVN
Ngày 28/08/1987 Hy sinh trên đường đấu tranh Giải Phóng VN


Khi tôi ra trường đầu thập niên 60, tổng số sĩ quan trong Hải Quân chưa đến 300 người. Quân số tất cả SĩQuan, Hạ Sĩ Quan và Đoàn Viên của Hải Quân vào khoảng 4000 người mà thôi. Do đó hầu như chúng tôi biết tên, biết tuổi và tính tình của tất cả những vị sĩ quanđàn anh.

Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân số của tất cả Hải Quân trên 40 ngàn, trong đó sĩ quan có đến mấy ngàn. Riêng cấp tướng có 10 vị đang tại chức và 1 vị đã về hưu vì đáo hạn tuổi. Trong những sĩ quan cấp tướng này có thể chia ra làm 2 loại. Thứ nhất là những vị sĩ quan xuất thân khoá 1 Nha Trang do Pháp huấn luyện trên Hạm Đội Viễn Đông (Division Navale D Extreme Orient), với thâm niên quân vụ và chức vụ, nên ưu tiên lên tướng trước với cấp bậc 2 sao, 3 sao. Thứ hai là những vị tướng mới lên sau này, 1 sao, khi cuộc chiến ở giai đoạn cam go và Hải Quân bành trướng mau lẹ, bao gồm những sĩ quan xuất thân khoá 1 trường Sĩ Quan Hải Quân Brest, do Pháp huấn luyện; khóa 2, khoá 3, khoá 4 và khoá 5 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.

Ông Hoàng cơ Minh xuất thân khoá 5, lên tướng, là người độc nhất trong khoá ông được vinh dự này. Đa số những sĩ quan khoá 5 mang cấp bậc đại tá, có người còn đeo trung tá. Như lời Đại Tá Nguyễn văn May cùng khoá với ông nhận định rằng: "Trừ lon Trung Uý là chúng tôi cùng lên chung, sau đó hầu như cấp bậc nào ông Minh cũng lên trước anh em bởi những công trạng đặc biệt. Ông Minh quả là người xuất sắc hơn người".

Trong thời gian thụ huấn, là Sinh Viên Chuẩn Uý, chúng tôi nhìn những Sĩ Quan đàn anh đã ra trường bằng một tấm lòng khao khát và ngưỡng mộ. Nói chi đến vị Đại Uý Hạm Trưởng, ba vạch vàng trên vai và huy hiệu Hạm Trưởng gắn trên nắp áo. Các vị ấy cao xa quá, tài giỏi quá. Xung quanh các vị ấy là cả một vùng sương mù của huyền thoại. Ông này khó tính, chì sóng. Ông kia cặp cầu xuôi sóng mà êm như để. Ông khác tuy rất thâm niên nhưng không thích làm việc trên bờ, chỉ thích đi tàu...

Lúc ấy Đại Uý Hoàng cơ Minh đang là Hạm Trưởng trục lôi hạm Bạch Đằng II, HQ 116. Chiến hạm tuy nhỏnhưng mới tinh, trên ống khói có gắn một huy hiệu vẽ một mỹ nhân ngư cầm cái chổi (để quét mìn). Bên trên huy hiệu này là một chữ ƯU bằng đồng thau sáng loáng, chứng tỏ trong kỳ thanh tra thường niên vừa qua, chiến hạm đã đạt được điểm tối đa trên mọi lãnh vực: thi hành tốt các công tác đã được chỉ định; bảo trì toàn hảo tất cả các loại máy móc trên tàu; và tinh thần phục vụ của nhân viên rất cao.

Khi bước chân xuống thực tập trên trục lôi hạm này, chúng tôi thấy khác hẳn những chiến hạm khác. Vì hầu như nơi đâu trên tàu nếu không được sơn phết sáng trưng, đều được đánh đồng bóng lộn. Không có những chỗ hoen rỉ, vàng úa bọng sét. Vì chiến hạm này vỏ bằng gỗ, không rỉ sét, nhưng dễ vỡ. Vận chuyển phải thật khéo léo, tránh va chạm như loại tàu vỏ sắt. Kim loại dùng trên tàu này một phần là sắt, thép đã được khử từ, mà đa số cơ phận làm bằng đồng thau. Lý do đồng thau không bị hút bởi từ lực, tránh nguy hiểm cho chiến hạm đi gần loại mìn từ tính. Ngay trên sân chính là một mặt trống khổng lồ để phá mìn âm thanh. Bên cạnh đó là cảmột cuộn giây cable đường kính có đến gần 10 phân, nằm chình ình trong trục quay.

Đối với chúng tôi, những sinh viên chưa ra trường, quang cảnh ấy là cả những gì choáng ngợp, khó khăn. Tôi và mấy người bạn cùng khóa đứng nghiêm túc trên đài chỉ huy, quan sát và ghi chép mọi diễn tiến tại đây, chiêm ngưỡng vị Hạm Trưởng, Đại Uý Hoàng cơ Minh đứng điều khiển con tàu.

Còi nhiệm sở vận chuyển kéo lên. Thuỷ thủ đoàn quần xanh đậm, áo xanh xám nhạt, mặc áo phao màu đỏ, mau chóng chạy vào nhiệm sở. Lệnh Hạm Trưởng ban ra sắc, gọn, được nhắc lại và thi hành rất chính xác. Khi con tàu đã ở trên hải lộ hướng mũi ra cửa biển, Hạm Trưởng đứng một lúc, hướng mắt ra khơi. Ông trở lại ghế dành riêng cho Hạm Trưởng, thong thả châm một điếu Bastos, hít một hơi dài, thở khói mù mịt, rồi ra lệnh: "Giải tán nhiệm sở vận chuyển." Gió thổi bay giây hiệu kỳchiến hạm lật phật. Một hồi còi dài ré lên. Nhưng tiếp theo ngay là hồi còi nhiệm sở của phiên hải hành. Vị sĩ quan trưởng phiên dơ tay chào Hạm Trưởng, biểu lộ sẵn sàng là sĩ quan đương phiên, đứng ngay cạnh la bàn điện, ra lệnh cho phòng lái. Đó là hình ảnh đầu tiên tôi có với niên trưởng Hoàng cơ Minh.

Sau này, khi đã ra trường, công tác và trách nhiệm đòi hỏi, đa số anh em cùng khoá chúng tôi là những ngươi đi tàu tốt. Nhiều người đã là Hạm Trưởng những chiến hạm lớn nhất của Hải Quân: khu trục hạm, tuần dương hạm. Trong trận hải chiến lịch sử chống quân Trung Cộng tại Hoàng Sa, ngày 19 tháng 1 năm 1974, hai trong bốn vị Hạm Trưởng tham dự trận đánh là Sĩ Quan khoá 11. Tôi cũng từng là Hạm Trưởng, chỉ huy một con tàu nhỏ, nhưng hình ảnh Hạm Trưởng Hoàng cơ Minh, vẫn là một mẫu mực đẹp đẽ trong ký ức của tôi.

***

Từ năm 1965, cuộc chiến Việt Nam trở nên mãnh liệt, Quân Lực Mỹ ồ ạt đổ vào Việt Nam. Bên cạnh đó, một số quốc gia đồng minh của VNCH cũng tham gia cuộc chiến, với nhiều sắc thái. Phi Luật Tân gửi Đoàn Y Tế Dân Sự Vụ. Các quốc gia trong vùng gửi bộ binh tham chiến là Úc Đại Lợi, Thái Lan, Đại Hàn.

Dân chúng Thủ Đô hẳn không quên tên 2 Sư Đoàn Mãnh Hổ và Thanh Long và vòng đai bảo vệ Sài Gòn là Xa Lộ Đại Hàn, với những sinh hoạt Dân Sự Vụ rất được báo chí nhắc đến của 2 Sư Đoàn kiểu mẫu và thiện chiến này. Bên cạnh đó còn có các Dương Vận Hạm mang quốc kỳ Đại Hàn hoạt động trên lãnh hải Việt Nam, thường đậu ở Bến Bạch Đằng. Các chiến hạm này hiện diện tới những phút cuối cùng của cuộc chiến. Nhiều người dân Thủ Đô vào cuối tháng 4 năm 1975, đã rời khỏi nước trên những chiến hạm này.

Trong thời gian quân đội Đại Hàn tham chiến ở Việt Nam, HQ Thiếu Tá Hoàng cơ Minh đảm nhiệm vai trò Tùy Viên Quân Lực của toà Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Đại Hàn. Đó là trách vụ của một sỹ quan cao cấp, nhưng Thiếu Tá Hoàng cơ Minh đã hoàn tất công tác rất vẹn toàn. Những ý kiến, những sắp xếp và những tài liệu hướng dẫn do ông soạn thảo để tránh những hiểu lầm giữa hai dân tộc Việt Nam và Đại Hàn, chắc chắn đã ảnh hưởng đến sinh hoạt của các Sư Đoàn và những chiến hạm nói trên.

Trong thời gian này tôi được biệt phái qua Nha Hoả Xa để lái tàu dân sự. Ở đây trên 2 năm, nhìn bạn bè trong khoá lên lon vùn vụt, bỗng động lòng trắc ẩn, tôi xin trở về Hải Quân. Lâu lắm mới mặc lại bộ quần áo nhà binh hồ thẳng nếp cứng quèo, đeo lon cứ thấy ngượng như đeo lon giả. Vừa bước vào sân trại Bạch Đằng đụng ngay Trung Tá Hoàng cơ Minh ở hàng hiên cao ốc. Ông gọi lớn và hỏi: "Cậu biến đi đâu mấy năm nay". Ông kéo tôi vào văn phòng ông: Văn Phòng Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị ở góc từng trệt toà nhà chính.

Tôi trình bày hoàn cảnh của tôi. Ông bảo: "Thôi ở đây làm việc với tôi." Chưa biết sẽ phụ trách công tác gì, nên tôi ngần ngại. Ông bảo: "Để tôi dàn xếp, miễn là cậu thích làm việc với tôi. Coi như xong, về nhà nghỉ thêm vài ngày nữa đi." Mấy ngày sau trở lại, ông Minh nói: "Tôi thua. Đại Tá Ánh xin Tư Lệnh để cậu xuống Cần Thơ làm việc với ông ấy rồi." Qua một vài nhiệm sở, mấy năm sau khi tôi trở về Sài Gòn làm Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Hải Quân, thì ông Minh đã là một tên tuổi gắn liền với những chiến công ở các vùng lửa đạn.

***

Từ năm 1970, Mỹ chuyển giao cấp tốc chiến hạm, chiến đỉnh và những căn cứ tiếp vận cho Hải Quân Việt
Nam. Trong thời gian chưa đầy 3 năm, bắt đầu từ năm 1970, Hải Quân Việt Nam phải tuyển mộ và huấn luyện gần 30 ngàn Sĩ Quan và Đoàn Viên.

Những sĩ quan đàn anh của tôi lên lon vùn vụt mà hầu như không kịp với chức vụ và nhu cầu. Trước đó hai tiếng Tư lệnh là một danh xưng độc nhất đầy tôn kính, chỉ để gọi vị Tư Lệnh Hải Quân mà thôi. Bây giờ, từ năm 1970, ngoài vị Tư Lệnh Hải Quân tại Sài Gòn, còn có nhiều vị Tư Lệnh khác: Tư Lệnh Vùng Duyên Hải, Tư Lệnh Vùng Sông Ngòi, Tư Lệnh Lực Lượng.

Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Miền Nam, ngoài những Giang Đoàn Xung Phong ra, bây giờ có thêm trên 1000 chiến đỉnh đủ loại ngang dọc trên khắp các vùng sông nước. Đó là những chiến đỉnh thuộc ba Lực Lượng Đặc Nhiệm: Lực Lượng Trung Ương, Lực Lượng Tuần Thám và Lực Lượng Thuỷ Bộ. Đây cũng là nét rất đặc thù của Hải Quân Việt Nam. Vì trên thế giới không có một một quốc gia nào có một lực lượng hải quân trong sông to lớn và đa hiệu như thế.

Niên trưởng Hoàng cơ Minh bây giờ là Đại Tá, Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ. Đó là một lực lượng gồm khoảng 300 chiến đỉnh. Lực Lượng này được coi là dũng mãnh nhất, một mũi nhọn sắc bén nhất trong sông ngòi của Hải Quân Việt Nam.

Các chiến đỉnh của Lực Lượng này vỏ dày, hoả lực hùng hậu. Đặc biệt loại chiến đỉnh Tango, nóc bằng, trực thăng có thể đáp xuống dễ dàng, có mặt ở khắp nơi, kể cả những vùng mà từ lâu nay được coi là an toàn khu của địch. Từ Chương Thiện, Cà Mau, Sóc Trăng đến Rạch Sỏi, Xẻo Rô, kinh Đồng Tiến, kinh Cổ Cò hóc hiểm sình lầy, những "hàng không mẫu hạm tý hon" này đều có mặt, tạo ra những phản ứng thần tốc, khốc liệt, kinh hoàng khiến đối phương không kịp trở tay. Vì ngoài hoả lực cơ hữu của các chiến đỉnh và bộ quân tùng đỉnh, khi cần, quân tiếp viện sẽ được trực thăng ào ạt chở tới, đáp trên sàn tàu, mở đường, phản công và tản thương rất hữu hiệu.

Nên mỗi khi thấy chiến đỉnh của Thuỷ Bộ xuất hiện, địch chỉ còn có hai cách: nằm im, ẩn mình; hoặc chẳng đặng đừng thì liều lĩnh khai pháo rồi "chém vè" (chạy) để gục chết nát thây mà thôi. Vì thế những vị chỉ huy trưởng bên Bộ Binh đều muốn có những chiến đỉnh của Lực Lượng Thuỷ Bộ hoạt động trong vùng trách nhiệm của mình.

Trong những cuộc hành quân sôi động, với một trực thăng biệt phái, ông Minh hầu như hiện diện khắp nơi thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Những "đứa con" của ông, hễ có đụng là đã thấy tiếng ông trên máy. Và khi khẩn cấp, ngặt nghèo, không gọi, đã thấy ông bay trên đầu theo dõi, chỉ thị, hỗ trợ và tiếp cứu.

Hãy theo dõi một đoạn bút ký của anh Nguyễn Đình Sài, cựu sĩ quan trong Lực Lượng Thuỷ Bộ, diễn tả lại một trong những cảnh bi hùng từng xẩy ra trên bao nhiêu khúc sông oan nghiệt trong cuộc chiến ở đồng bằng sông Cửu Long: "...Tôi đang chỉ thị cho hai chiếc Alpha đến kéo chiếc Monitor bị đạn ra thì bỗng thảm hoạ sẩy ra trước mắt. Thuỷ thủ LVN trên chiếc Tango Bạch Hổ vừa trong ụ súng khẩu đại liên 20mm bước ra ngoài, có lẽ không khí trong thành sắt quá hầm. Một tiếng "phụt" vang lên, thây anh ngã vật xuống sàn, cái đầu văng đâu mất tiêu. Trái B41 không biết từ đâu bay tới hớt gọn cái đầu của anh, rồi lướt qua sàn platform, nổ tung giữa sông...

Tôi dùng máy báo cáo với "Thẩm Quyền" đang bay trực thăng ở hướng tây, miệt Kiên Hưng. Qua tiếng nói, tôi nhận ra giọng nói của "Thẩm Quyền", chính là Đại Tá Hoàng CơMinh... Ông bảo đợi đó, đã có tiếp vận và tải thương đang trên đường đến. Thế là ông bay đi... Khoảng hơn giờ sau thì có tiếng máy tàu vọng đến từ hạ giòng. Một đoàn giang đỉnh 5 chiếc gồm 3 Alpha và 2 Monitor im lặng vô tuyến chạy vào, đến gần mới sang tần số hành quân để liên lạc.

Qua ánh đèn pin chiếu xuống sàn tàu hắt lên, tôi giật mình kinh ngạc, nhận ra người đầu tiên nhảy sang tàu tôi chính là Đại Tá Hoàng Cơ Minh, Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ. Ông Minh bước đến xác thuỷ thủ N., lật tấm mền ra, cố ôm cái xác cụt đầu lên, cằm ông bạnh ra như muốn kìm chế nỗi thương tâm người thuộc cấp và lòng oán hận kẻ thù. Mọi người lặngđi trong nỗi xúc động tột cùng. Suốt cả đời tôi không bao giờ quên cảnh tượng bi hùng trong giờ phút ấy..."

Đọc đoạn búy ký này tôi rùng mình kinh sợ, hai tay nổi gai. Nhưng trong Hải Quân, ai đã dấn thân vào những "vùng tử địa" như U Minh Thượng, U Minh Hạ dưới quyền chỉ huy của tướng Minh, đều có những kỷ niệm lạnh mình lo sợ lẫn sững sờ mừng vui khi thấy vị Tư Lệnh của mình bất ngờ xuất hiện như thế. Những cảnh huống ấy mỗi lúc mỗi nhiều, chồng lớp và biến thể, thêm bớt thành những huyền thoại bao phủ hình ảnh của niên trưởng Hoàng cơ Minh.

***
Nói đến những con kinh quan trọng trong đồng bằng sông Cửu Long, phải nói đến kinh Phụng Hiệp, dài 140 cây số, nối liền ba tỉnh An Xuyên, Ba Xuyên và Cần Thơ. Đặc biệt Ngã Bảy Phụng Hiệp là cửa ngõ, nơi hội tụ và phân chia của ghe thuyền tới những vùng đất mầu mỡ quan trọng của châu thổ Cửu Long, như trái tim chuyển máu đi nuôi toàn thân thể: từ Phụng Hiệp đi Cái Côn đổ ra sông Hậu Giang; từ Phụng Hiệp xuôi kinh Búng Tàu đi Năm Căn, Vĩnh Thuận, Cà mau; từ Phụng Hiệp theo kinh Lái Hiếu qua Trà Bàng, Long Mỹ đi Chương Thiện, Rạch Giá... Bốn ngả còn lại nối liền kinh rạch trong phạm vi tỉnh huyện như Xẻo Môn, Sóc Trăng.

Vì sự quan trọng này mà máu xương của người lính hai bên trận tuyến đã liên tiếp gặp gỡ, đổ ra để giành giựt sự kiểm soát thuỷ lộ huyết mạch này, như nhận định của Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Phụ Tá Tư Lệnh Hành Quân Sông: "Kinh Phụng Hiệp thuộc hệ thống thuỷ lộ đi từ Hậu Giang, tỉnh Phong Dinh đến Cà Mâu, tỉnh An Xuyên. Quận Phụng Hiệp, Phong Dinh, nơi gặp gỡ của nhiều con kinh, ranh giới của hai tỉnh Ba Xuyên và Chương Thiện. Đây là thuỷ lộ huyết mạch chuyển vận lúa gạo và hàng hoá giữa các tỉnh miền Hậu Giang với miền Đông, nên rất quan trọng cho nền kinh tế quốc gia".

Khi làm Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ, ông Minh đã có mặt trên những khúc thuỷ trình sắt máu này, như những người lính tiền phong tiến vào vùng lửa đạn. Theo lời kể của anh Lý Anh Kiệt, Tham Mưu Phó Hành Quân, kiêm Trưởng Phòng 3 của Lực Lượng này trong các năm 1973-75, như sau: "dọc theo kinh Phụng Hiệp, từ Cần Thơ đi Sóc Trăng dài hun hút, năm 1974, gần 50 đồn bót bị Cộng Quân san bằng.

Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ra lệnh: bằng mọi giá phải xây dựng lại. Trong cuộc hành quân này vai trò của Hải Quân rất là nặng nề: Dùng đường thuỷ mở lại đầu cầu. Chở Bộ Binh tái chiếm. Yểm trợ Bộ Binh xây dựng lại đồn bót. Đặc biệt chú trọng đến công tác Tâm Lý Chiến, Dân Sự Vụ, giúp dân xây dựng lại cửa nhà.

Như thế trong vùng "xôi đậu" này, dưới nước thuỷ lôi nhiều như dừa khô; Trên bờ địch lẩn trong dân như trấu. Vậy mà trên chiếc xe Jeep chạy dọc theo bờ kinh dài hun hút, tướng Minh vẫn ra lệnh cắm hiệu kỳ 1 sao phấp phới. Khi di chuyển dưới nước, khai diễn cuộc hành quân, ông ngồi trên mui chiếc Fom, đi đầu đoàn chiến đỉnh, ngôi sao bạc vẫn lấp lánh trên vai áo.

Mình đi theo ông, thấy ông như thế, chẳng lẽ ngồi trong lòng tàu, đành cũng phải đứng quanh quẩn sau ông. Một tràng đại liên, một quả B40 phụt ra là tất cả Bộ Tham Mưu Lực Lượng bay hết. Không giải thích được. Có lẽ ông Minh tin mạnh mẽ vào cung mệnh của mình trong lá số tử vi. Và có lẽ địch cũng không thể ngờ trên một chiến đỉnh nhỏ bé ấy lại có một ông tướng ngồi trên mui tàu, dẫn đầu cuộc hành quân."

Nói về ăn uống, có nhiều người vẫn cho rằng Hải Quân sang trọng, ăn uống kiểu cách, thừa mứa. Điều ấy có lẽ khá đúng trong thời gian đầu dưới quy chế của Hải Quân Pháp mà thôi. Sau này, nhất là trong giai đoạn cam go của cuộc chiến, mọi quân nhân, bất cứ cấp bậc, và quân binh chủng nào, cuộc sống đều rất kiệm ước, khó khăn. Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, xuất thân từ trường sĩ quan danh tiếng của Pháp, trường Brest, cho hay: "Lương lậu chúng tôi chỉ đủ ăn. Hàng ngày chúng tôi dùng cơm trong Câu Lạc Bộ, kể cả tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn. Tôi đôi khi ăn cơm gánh (tà lọt) mua về từ chợ Cần Thơ."

Tướng Hoàng cơ Minh chẳng những không ra ngoài thông lệ ấy, mà ông còn giản dị hơn nhiều. Anh Lý anh Kiệt cho hay: "Hàng ngày ông Minh ăn trong Câu Lạc Bộ như những sĩ quan khác. Nếu bất ngờ có khách, ông sai mổ ngay một con heo... (hộp). Thuốc thì như lính, rặt Bastos xanh, khét lẹt. Khi bay thị sát chiến trường hay thăm viếng các đơn vị trực thuộc, ông và đoàn tuỳ tùng, mỗi người đem theo một ổ bánh mì dài, hay mấy bị cơm sấy và một bi-đông nước. "Tránh làm phiền những đơn vị", ông luôn nhắc nhở các sĩ quan như thế. Lúc rảnh rỗi ông nghiền ngẫm bộ Tam Quốc Chí. Trong khi tụi tôi thì nghiện Cô Gái Đồ Long. Ông bảo: Nhà binh phải thuộc Tam Quốc Chí. Hay lắm, áp dụng vào thực tế vẫn hữu ích vô cùng..."

Nhân câu chuyện này cũng khiến tôi nhớ đến bữa tiệc được tổ chức tại Bộ Tư Lệnh Thuỷ Bộ vào năm 1973, khoản đãi Tư Lệnh Hải Quân và phái đoàn thanh tra.

Bữa tiệc diễn ra đúng nghi lễ. Các sĩ quan chủ cũng như khách mặc tiểu lễ trắng, lon vàng mới óng ánh, giây biểu chương và huy chương cuống rực rỡ, 6 người một bàn. Các bàn kê sát nhau thành một hàng dài, trải khăn bàn trắng tinh. Tư Lệnh Hải Quân ngồi ở đầu bàn, chỗ ngồi danh dự nhất.


Đối diện với Tư Lệnh, cuối dãy bàn là vị trí của vị sĩ quan ít thâm niên nhất, và đương nhiên là Sĩ Quan Ẩm Thực. Trước khi vào tiệc, Sĩ Quan Ẩm Thực đứng lên, trịnh trọng đọc thực đơn,đúng theo truyền thống Hải Quân trong những bữa tiệc quan trọng. Nhưng thực đơn hôm ấy chỉ là mấy món ăn đơn giản như một bữa cơm thường trong Câu Lạc Bộ gồm thịt kho, dưa giá.

Món canh là một con vịt hầm rất kỹ trong một nồi lớn, đầy nước đang xôi, bốc khói nghi ngút. Bên cạnh đó là một đĩa rau sống khổng lồ, để nhúng vào nồi nước hầm vịt. Vị Sĩ Quan Ẩm Thực hình như đã được học tập, chỉ thị chu đáo, nên đã trình bày khá tỷ mỉ và duyên dáng về món ăn "quan trọng" này. Đó cũng là món chính, món cuối cùng. Vì sau món đó là đồ tráng miệng bằng chuối. (Có nghĩa là bữa ăn chỉ có thế thôi, không còn gì thêm nữa đâu).

Tôi có tham dự bữa ăn này, vì lúc ấy tôi là Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, tháp tùng Đô Đốc Tư Lệnh trong phái đoàn thanh tra. Nghe đọc thực đơn chúng tôi không dám cười. Mọi người không ai dám cười, vì bữa ăn này còn là một nghi lễ, được đánh giá, cho điểm như một sinh hoạt của đơn vị. Sau tôi có hỏi một sĩ quan: Sao lại đơn sơ quá vậy? Vị sĩ quan này cho biết: "Tư Lệnh chúng tôi không đồng ý để các sĩ quan phải đóng nhiều tiền đãi khách. Thuỷ Bộ hành quân liên miên, không có một ngân quỹ nào để khoản đãi phái đoàn."

Việc này, mới đây (tháng 12, 2002), tôi có nhắc lại với anh Lý Anh Kiệt. Anh Kiệt nói: "Ông Minh lúc đầu còn chỉ thị tụi tao sẽ thu tiền ăn các người tham dự, trừ Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân mà thôi. Thấy kỳ quá, chính tụi tao bỏ tiền ra đãi khách, ông Minh không biết. Không ai dám cho ông biết sự thật đó cả. Cũng vì thếbữa tiệc cũng không dám bày vẽ gì thêm".

Vẫn lời anh Lý anh Kiệt: "Cũng không biết thế nào mà nói. Ông can trường, giản dị và liêm khiết như tao biết đã đành. Nhưng có những điều tao nghĩ không ra. Như hồi 1974, đoàn convoi do giang đoàn của Quyên (Thiếu Tá Nguyễn ngọc Quyên) khoá mình hộ tống, gặp tụi Việt Cộng tấn công tàn bạo quá ở khúc sông khúc khuỷu Cổ Cò. Quyên kêu cứu tao, là Tham Mưu Phó Hành Quân kiêm Trưởng Phòng 3, tao trình lên ông, ông thuận, rồi tao gửi một đơn vị thuộc Lực Lượng Thuỷ Bộ đang hành quân gần đó cấp tốc đến tiếp cứu, giải vây.

Đoàn giang vận mấy chục chiếc, chở hàng ngàn tấn gạo, cá mắm, khi bị tấn công, chạy tản mát tứ tán, được tụi tao gom lại đầy đủ. Đoàn convoi tiếp tục lên đường về Sài Gòn, không rơi một hạt thóc. Ít tháng sau, nhân Sinh Nhật Một Năm của Lực Lượng, chủ đoàn convoi tìm đến Bộ Tư Lệnh Thuỷ Bộ, với tinh thần hậu phương yểm trợ tiền tuyến, xin ủng hộ Lực Lượng một triệu đồng để Lực Lượng làm lễ liên hoan. Tao mừng, và trình lên ông Minh. Ông không cho nhận, còn xạc tao một trận. Thật không biết sao mà nói."

Từ những can trường, dũng mãnh và hành xử đặc biệt ấy, ông Minh đã thăng hoa, đeo sao ở Lực Lượng Thuỷ Bộ, qua mặt rất đông những vị đàn anh. Từ đó lớp hào quang và huyền thoại quanh ông hầu như mỗi lúc mỗi thêm dày đặc. Có những phỏng đoán đồn đại: ông Minh sẽ nắm chức vụ này, chức nọ nay mai.

Sau đó là lúc đất nước đến hồi nghiêng ngửa, vào tháng 3 năm 1975, tướng Minh được chỉ định ra Miền Trung làm Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải. Một vùng duyên hải dài nhất trong 5 vùng, chạy dài từ Quy Nhơn đến Phan Thiết, gồm những duyên đoàn 21 đóng tại Tam Quan, Hải Đội 2 Duyên Phòng đóng tại Quy Nhơn (căn cứ cũ của Duyên Đoàn 22 đã giải tán), DuyênĐoàn 23 tại Sông Cầu, duyên đoàn 25 tại Hòn Khói, duyên đoàn 26 tại Bình Ba, duyên đoàn 27 tại Ninh Chữ và duyên đoàn 28 tại Phan Thiết. Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải đóng tại Cam Ranh, chỉ huy tất cả 6 duyên đoàn, và mấy chục Duyên Tốc Đỉnh của Hải Đội Duyên Phòng, những cơ sở tiếp vận sửa chữa, các đài kiểm báo trong vùng và những chiến hạm của Hạm Đội biệt phái.

Ngày 31 tháng 3, Quy Nhơn địa đầu cực Bắc của vùng 2 Duyên Hải ở trong tình trạng nguy ngập. Ngoài những đơn vị cơ hữu trực thuộc, trên mặt biển ngoài khơi Quy Nhơn có những chiến hạm sau đây từ Sài Gòn biệt phái hiện diện, đặt dưới quyền điều động của tướng Hoàng cơ Minh: HQ 2, HQ 3, HQ 7, HQ 400, HQ 403, HQ 406, HQ 505 và một số những chiến hạm nhỏ. Tướng Minh hiện diện trên Tuần Dương Hạm Trần nhật Duật, HQ 3, do HQ Trung Tá Nguyễn Kim Triệu làm Hạm Trưởng, tướng kỳ 1 sao trắng trên nền xanh, phấp phới trên kỳ đài.

Sáng ngày 31 tháng 3, lệnh từ Sài Gòn, chỉ thị cho Hải Quân vào bãi biển Quy Nhơn bốc Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Hai hải vận hạm HQ 403 và HQ 400, dưới sự đôn đốc của HQ Trung Tá Lê Thuần Phong, Chỉ Huy Trưởng Hải Đội Chuyển Vận, ủi bãi Quy Nhơn, trước trường Sư Phạm để đón quân của Sư Đoàn 22 đang có mặt trên bãi.


Nhưng tàu vừa hướng mũi vào bãi ủi, bị hoả lực của địch bắn ra quá mạnh. B40 nổ tung phía trước. Chiến hạm phải lùi ra, trong nhiệm sở tác chiến, đồng thời thả thang giây và lưới hai bên hông chiến hạm để anh em Bộ Binh leo lên tàu. Do đó quân từ trên bờ của Sư Đoàn 22 Bộ Binh phải liều chết bơi ra tàu. Cuộc vớt người diễn ra trên vùng biển Quy Nhơn suốt ngày đêm rất khó nhọc, bi thương, nhưng không đến nỗi ngập máu như ở Đà Nẵng.

Biển êm tàu chỉ lùi ra ở độ xa vừa phải, ngoài tầm đạn địch, dùng hoả lực cơ hữu của chiến hạm phản pháo và bắn cản địch đang tiến tới ở trên bờ, phía sau anh em Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Trong số những quân nhân bơi ra biển và được chiến hạm Hải Quân vớt, có cả Thiếu Tướng Phan đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Lên được chiến hạm HQ 400, tướng Niệmở trong tình trạng suy nhược nặng nề cả thể chất lẫn tinh thần. Ông được săn sóc đặc biệt, vì HQ 400 vốn là một bệnh viện hạm.

Tất nhiên mọi quân nhân của của Sư Đoàn này lên được chiến hạm, ai cũng sũng nước, đói khát nằm lăn ra sàn tàu, không còn hàng ngũ gì nữa. Thiếu Tướng Phạm văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2, chỉ định Tướng Minh thay thế tướng Niệm, kiêm nhiệm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh và Tư Lệnh chiến trường Bình Định.


2 giờ sáng ngày 2 tháng 4, Tướng Minh nhận được lệnh từ Sài Gòn qua Bộ Tư Lệnh Hải Quân và trên Đài Quân Đội thông báo: Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm tướng Minh làm Tổng Trấn Quy Nhơn. Tướng Minh có toàn quyền điều động tất cả lực lượng tại địa phương để tái chiếm Quy Nhơn, gồm Sư Đoàn 22 BB, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, Hải Quân.


Trung Tá Nguyễn kim Triệu, Hạm Trưởng HQ 3, nhớ lại cho biết: "Để thi hành lệnh này, sang sớm ngày 2 tháng 4, ông Minh chỉ thị các chiến hạm hiện diện, túc trực ở sát bờ biển Quy Nhơn, sẵn sàng nhận lệnh cuả ông từ trong bờ. Đích thân tướng Minh và Bộ Tham Mưu nhẹ, rời HQ 3, xuống chiến đỉnh nhỏ vào Bộ Chỉ Huy Hải Đội 2 Duyên Phòng, để trực tiếp nắm vững tình hình trên bộ. Từ đây những liên lạc hàng dọc, cũng như hàng ngang với các đơn vị bạn đã vắng ngắt. Nhất là trên các tần số liên lạc với Sư Đoàn 22 Bộ Binh, không còn ai nghe nữa.

Riêng về Tướng Phan đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB, vì sức khoẻ suy kiệt, được điều trị trên Bệnh Viện Hạm HQ 400, đang ở ngoài khơi Vũng Tàu, trên đường về Sài Gòn. Trước hoàn cảnh này, tướng Minh trở lại HQ 3, tường trình về Sài Gòn. Tất cả các chiến hạm biệt phái cho Vùng 2 Duyên Hải và các chiến đỉnh trực thuộc, theo lệnh tướng Minh, xuôi Nam ."

Trên đường xuôi Nam , các chiến hạm nối đuôi nhau, uy nghiêm, thứ tự như diễn hành thao dượt. Vẫn lá cờ xanh, một ngôi sao trắng trên cánh phải của cột cờ, phấp phới tung bay. Biển êm như mặt kính, chưa bao giờ lại êm như thế. Các chiến thuyền của các Duyên Đoàn, nhất là các Duyên Tốc Đỉnh của Hải Đội Duyên Phòng chở theo đầy người, quân nhân và gia đình, chạy dọc theo hai bên đoàn tàu. Những ghe dân túa ra như lá tre. Tướng Minh ra lệnh cho các chiến đỉnh, chiến thuyền của đơn vị thận trọng để tránh địch và những phần tử vô kỷ luật gây xáo trộn; và tuỳ khả năng, các chiến đỉnh cố gắng cứu vớt hoặc trợ giúp mọi người.

Nếu vớt được quá đông người thì ghé vào các chiến hạm lớn, san người lên đó. Bất cứ quân nhân nào bước lên chiến hạm, chiến đỉnh, nếu có khí giới, đều phải giao nộp, cất vào kho.

Trở lại Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải tại Cam Ranh, ông Minh dùng trực thăng thị sát mặt trận, theo dõi tình hình trong vùng trách nhiệm, và ra lệnh cho các chiến hạm tận dụng hải pháo bắn ngăn chặn bước tiến của Bắc quân, phá sập những cây cầu quan trọng. Cam Ranh xáo trộn. Ông trở lại HQ 3, tiếp tục xuôi Nam . Ông ra lệnh phá huỷ Trung Tâm Phát Tuyến trên đảo Cam Ranh. Chiều ngày 3 tháng 4, hải đoàn đi ngang Duyên Đoàn 27 ở Ninh Chữ, tướng Minh rời HQ 3, sang Tuần dương Hạm HQ 2, do HQ Trung Tá Đinh mạnh Hùng, khoá 11 (trùng tên với Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng) làm Hạm Trưởng.

Hạm Trưởng Hùng và toán dàn chào đón đợi ở hạm kiều và hướng dẫn tướng Minh lên Trung Tâm Chiến Báo (CIC) của chiến hạm. Tại đây tướng Minh lại tiếp tục theo dõi trận liệt và chỉ huy mặt trận tại địa phương.

Ngày 15 tháng 4, tướng Minh đáp trực thăng vào phi trường Phan Rang, quê hương của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, họp cùng Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi, Tư Lệnh Mặt Trận Phan Rang; Chuẩn Tướng Nguyễn văn Nhựt (Sư Đoàn 2 Bộ Binh); Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang, Tư Lệnh SĐ 6 KQ và một số sĩ quan khác, để cùng phối hợp hoạt động tại mặt trận này.

Trung Tá Đinh mạnh Hùng cho hay: "Mới xong phần giới thiệu thành phần tham dự, thì có tin phi trường đã bị địch bao vây, buổi họp giải tán ngay. Tướng Minh cấp tốc được trực thăng bốc ra Soái Hạm HQ 3".

Tối 16 tháng 4, tình hình Phan Rang trở nên sôi động. Tăng T54 của địch nằm ngay bãi biển Phan Rang, chĩa súng ra khơi. Dương vận Hạm HQ 503 do HQ Trung Tá Nguyễn văn Lộc, khoá 11, vào gần bờ phản pháo. Khi HQ 503 quay ngang để tận dụng hết khả năng hoả lực bắn vào bờ, Việt Cộng dùng đại bác 105 ly lấy được của mình bắn trực xạ ra chiến hạm. Một trái đại bác trúng đài chỉ huy, nổ tung, Hạm Trưởng Lộc bị thương vào đầu, máu ra sối xả, nhưng ông vẫn bình tĩnh ra lệnh cho tàu rút rakhơi. Cho đến nay, gần 30 năm, mảnh đạn vẫn trong đầu của Hạm Trưởng Lộc, vì không thể giải phẫu, lấy mảnh đạn ra. Giải phẫu là chết. Ông hiện ởtrong tình trạng khi đau, khi tỉnh. HQ 3, HQ 505 và HQ 406 cũng đổi vị thế, lùi ra ngoài tầm bắn của địch.

Ngày 17 tháng 4, HQ 406 chở Cảnh Sát Dã Chiến, dự trù đổ bộ tăng cường cho Phan Rang, không thành, được lệnh về Cát Lở. HQ 505 nằm ngoài khơi vịnh Phan Rang chờ lệnh. HQ 3 được lệnh đưa phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh trở lại Sài Gòn. HQ 3 đặt dưới quyền điều động của Phó Đề Đốc Nguyễn hữu Chí, Phụ Tá Hành Quân Biển. Trong khi đó, Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi, Tư Lệnh mặt trận Phan Rang và Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang, Tư Lệnh SĐ6KQ bị địch bắt. Tin này được loan báo trên đài phát thanh Sài Gòn. Đài phát thanh Hà Nội cũng loan tin này với những lời phát biểu ngắn của chính Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi. Mặt trận Phan Rang vỡ.


Cứ điểm chống cự sống chết của Sài Gòn bây giờ là Xuân Lộc.
Từ mặt trận Vùng 2 Duyên Hải trở về, đóng tại Cát Lái, Phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh làm việc với Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng, Phụ Tá Tư Lệnh Hải Quân, đặc trách Hành Quân Sông.


Trong hàng tướng lãnh Hải Quân, dưới Phó Đô Đốc Chung tấn Cang, 3 sao, Tư Lệnh Hải Quân, Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng, 1 sao, là người thâm niên nhất. (Hai vị tướng 2 sao khác là Đề Đốc Trần văn Chơn, cựu Tư Lệnh Hải Quân, thì đã về hưu; Đề Đốc Lâm ngươn Tánh, cựu Tư Lệnh Hải Quân thì được biệt phái sang Phủ Quốc VụKhanh, lo cho người tỵ nạn). Tướng Hùng xuất thân khoá 2 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, từng lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng. Ông cũng được tiếng là một vị sĩ quan cẩn trọng, lịch duyệt, kín đáo, được thượng cấp tin cẩn và thuộc cấp kính trọng.

Trong cuộc nói chuyện với Đô Đốc Chung tấn Cang, chúng tôi có hỏi rằng: "Ai là người có công nhất trong việc đem đoàn tàu ra khơi?" Đô Đốc Cang cho biết: "Hải Quân, như một chiếc tàu, không ai làm việc được một mình. Mọi thành công lớn, nhỏ, đều là công sức của tập thể,của nhiều người. Nhưng riêng trong việc đem đoàn tàu ra khơi, người có công nhất, ngày đêm lo cho đoàn tàu, là Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng..." Trong khi đó, là một sĩ quan Hải Quân di tản trên con tàu Thị Nại, HQ 502, một con tàu hỏng máy, chở theo trên 5000 người lênh đênh, khốn khổ lết ra được ngoài khơi Côn Sơn, khi kêu cứu, liên lạc, chúng tôi chỉ thấy tiếng nói của tướng Hoàng cơ Minh trên máy. Do đó chúng tôi có nêu thắc mắc này với Tướng Đinh mạnh Hùng.

Tướng Hùng trả lời đại ý: "Ở trên HQ 3, Soái Hạm, trên hết là Đô Đốc Chung tấn Cang, còn có Phó Đề Đốc Diệp quang Thuỷ, rồi sau đó còn có Phó Đề Đốc Nghiêm văn Phú và một số Đại Tá.

Trước khi đoàn tàu lên đường, chúng tôi có mời những vị tướng lãnh, các vị sĩ quan cao cấp ở những tàu khác sang họp. Sau, ai về tàu nấy với gia đình. Còn lại trên tàu, tôi thỉnh ý, nhận lệnh từ Đô Đốc Cang, rồi cùng bàn bạc mà thi hành. Đúng, các anh chỉ nghe thấy tiếng ông Minh trên máy. Vì trong chuyến hải hành đặc biệt này, để tránh ngộ nhận và rối loạn tần số, ông Minh được Đô Đốc Cang chỉ định trách nhiệm về liên lạc chỉ huy từ Soái Hạm, một tiếng nói chính thức và duy nhất.

Ông Minh làm việc rất chuyên cần, 24/24, hầu như không biết mệt. Tiếng ông Minh rõ ràng, có hùng lực, được anh em Hải Quân biết tới nhiều và kính trọng." Chúng tôi cũng đem ý kiến này hỏi Trung Tá Nguyễn kim Triệu, Hạm Trưởng HQ 3, ông Triệu cho hay: "Trong phòng Chiến Báo (CIC), chỉ có ông Hùng và ông Minh luôn túc trực, theo dõi mọi diễn tiến của Hạm Đội, nhận lệnh từ Đô Đốc Cang mà thi hành. Cả hai ông ấy đều làm việc rất nhiều, mỗi người mỗi việc, rất là nghiêm túc. Ông Hùng thì trông nom tổng quát. Ông Minh trực tiếp điều động. Tôi (Hạm Trưởng HQ 3), nhận lệnh từ 2 vị này, lo cho con tàu của mình mà thôi."

***

Bây giờ gần 30 năm giã từ quân ngũ. Tuỳ khả năng và hoàn cảnh, mỗi người phải bắt đầu làm lại cuộc sống từ con số không. Chẳng còn ai to, ai nhỏ nữa. Những tình cảm, kính trọng đối với nhau, tất nhiên không phải là những cấp bậc cao thấp khi xưa, mà là tư cách của mỗi cá nhân còn đọng lại trong trí nhớ của nhau. Tập thể nào cũng có những kẻ bất xứng, lợi dụng đục nước thả câu. Nhưng trong gia đình Hải Quân không thiếu những người đầy tư cách, trong đó có niên trưởng Hoàng cơ Minh. Trong những kỷ niệm đáng nhớ với tướng Minh, tôi đặc biệt nhớ hai sự việc này:

Thứ nhất, khi Hạm Đội Việt Nam Cộng Hoà tới bờ biển Phi Luật Tân, chính tiếng ông Minh trên máy, chuyển công điện cuối cùng của Hải Quân, như sau:

Nhóm ngày giờ: 071010H/05/75.
From: HQ 3.
To: Tất cả các chiến hạm.

Để chuyển giao các chiến hạm cho Hải Quân Hoa Kỳ/ Yêu cầu các nơi nhận chuẩn bịthi hành khi có chỉ thị / Các chiến hạm tự tổ chức làm lễ hạ quốc kỳ Việt Nam và trương quốc kỳ Hoa Kỳ / Tiểu đỉnh của Hoa Kỳ sẽ sơn và xoá tên chiến hạm Việt Nam ở sau lại / Giờ giấc thi hành sẽ thông báo sau / Hết.


Từ công điện này, vào hồi 12 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1975, trên Biển Đông, các chiến hạm của VNCH đã cùng nhau làm lễ chào cờ lần cuối và hạ quốc kỳ VNCH xuống. Những xúc động khôn cùng đã lưu lại trong bao nhiêu trái tim đau khổ. Phút chốc cả đoàn tàu dũng mãnh, nghiêm túc, đủ loại của Hải Quân Việt Nam, giờ đã phấp phới quốc kỳ Mỹ, lần lượt cập cầu căn cứ Subic của Mỹ ở Phi luật Tân.

Đoàn người từ các chiến hạm lũ lượt mang hành lý sang con tàu buôn Green Forrest. Một con tàu chở hàng khổng lồ. Những khoang trống, sâu hun hút rộng thênh, bây giờ được bắc tạm những cầu thang gỗ để lên xuống. Đoàn người như một thứ hàng hoá không còn giá trị, xô bồ, đầy bất trắc, xúc động, rất dễ bùng lên thành những xáo trộn khó lường, khó xử, như mới chỉ vài tuần trước đây đã từng xẩy ra trên chính con tàu này khi di chuyển người từ Đà Nẵng vào Phú Quốc.

Theo sự cho biết của Phó Đề Đốc Đặng cao Thăng thì: "Các vị Tư Lệnh, phần lớn là cấp tướng, được Mỹ chở thẳng vào Guam bằng máy bay. Riêng ông Minh, ông tình nguyện đi tàu biển cùng với anh em thuỷ thủ đoàn và dân chúng. Cuộc đi khá dài, cực khổ, tế nhị. Sự hiện diện của ông Minh, theo tôi, đã giữ tinh thần cho anh em rất nhiều."

Kỷ niệm đáng nhớ thứ hai, vào trung tuần tháng 5 năm 1975, trong khu lều vải Orote Point, Guam, với tư cách cá nhân, tướng Minh đã tìm đến đây để sinh hoạt với anh em Hải Quân. Trong bơ vơ và tràn đầy xúc động, nhiều anh em đã ngẹn ngào nêu những thắc mắc, phẫn nộ liên hệ đến một vài tin đồn, những hành động bất xứng của người này, người khác. Ông Minh, rất bình tĩnh giải đáp và khuyên can .Đặc biệt, để kết luận, ông đã nói: "Việc anh nêu lên là thượng cấp không ai có ý kiến gì hướng dẫn anh em. Điều này quả thực tôi cũng có nghĩ đến, nên hôm nay mới tìm đến đây với anh em. Song đó chỉ là ý kiến cá nhân tôi, còn các vị khác, theo như tôi biết, tất cả còn rất bàng hoàng.

Mọi việc đã xẩy ra ngoài dự trù của chúng ta. Dù ai có ý kiến gì lúc này chắc cũng không thể nào thi hành được. Một ván cờ đã xoá. Mọi việc đã xong. Điều mà chúng ta phải làm là ngoài việc định cư trên đất mới, chúng ta phải sáng suốt tìm hiểu mọi diễn tiến của thời cuộc, và đặc biệt giữ lấy mối căm thù mất nước ngày hôm nay. Từ đó chúng ta sẽ đoàn kết lại mưu cầu một vận hội mới sau này."

***

Để có một cái nhìn cụ thể, một nhận định đã trực tiếp ảnh hưởng đến binh nghiệp của ông Minh, bài viết này đã được gửi lên vị cựu Tư Lệnh Hải Quân, người đã phê điểm và đề nghị ông Minh lên tướng, Đề Đốc Trần văn Chơn đã đọc rất kỹ và ghi chú: "Anh viết đúng lắm. Ông Minh là một người tài giỏi. Khi làm Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân, ông Minh đã chứng tỏ được lòng hăng say, nhiều sáng kiến trong lãnh vực tham mưu.

Khi được giao trách vụ Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ, hơn ai hết, ông Minh đã tỏ ra can trường và rất là tháo vát. Lực Lượng của ông không chỉ đã góp công trong việc khai thông kinh Phụng Hiệp, giữ huyết mạch kinh tế giữa Sài Gòn và vùng châu thổ Cửu Long giang, mà Lực Lượng Thuỷ Bộ dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông Minh đã quần nát vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ, mật khu an toàn và hậu cần căn bản của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại về nhiều mặt, ảnh hưởng rất lâu dài.

Ông Minh khoá 5, khi lên tướng mới 38 tuổi, trẻ nhất trong hàng tướng lãnh Hải Quân, vượt qua nhiều vị đàn anh, chính vì ông Minh đã có đủ Tài, Đức và lòng Dũng Cảm. Trong danh sách, tôi đề nghị ông Minh cùng một vài vị Đại Tá khác thâm niên hơn ông Minh. Tôi nghĩ rằng Tổng Thống Thiệu đã chọn ông Minh chính nhờ lòng dũng cảm hơn người của ông Minh.

Nếu vận hội bình thường, Miền Nam còn, tương lai của ông Minh, tôi nghĩ, sẽ vô cùng sáng lạn. Sau này khi ông Minh lãnh đạo Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam , thì tôi còn ở tù. Việt Cộng tỏ ra rất căm tức và có hỏi tôi rất nhiều về ông Minh. Tôi đã hết lời ca ngợi và nói rằng ông Minh là một vị tướng tài của Hải Quân Miền Nam ".

***

Từ 1975 về sau, trong một vận hội mới, Phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh là một khuôn mặt xuất hiện trước ánh sáng của thời cuộc, với bao nhiêu vinh quang và hệ luỵ vui buồn. Ông sinh ngày 20 tháng 6 năm 1935, đã hy sinh dũng liệt cùng những chiến hữu tại Nam Lào ngày 28 tháng 8 năm 1987, trên đường trở về mưu cầu giải phóng quê hương.

 
Người viết không phải là thành viên của tổ chức này, không nắm vững vấn đề, nên không dám đề cập, nhận định về những hoạt động sau này của ông. Là một quân nhân cấp nhỏ, có một thời mặc cùng mầu áo với ông, được tin ông nằm xuống, tôi rất bàng hoàng, xúc động và hết lòng kính ngưỡng. Tôi thu góp một số dữ kiện liên hệ trong thời quân ngũ của ông, ghi lại thành bài viết này, thay cho một nén hương tưởng niệm, nghiêng mình kính cẩn trước anh linh của một vị chỉ huy mẫu mực, một vị tướng can trường, một tấm gương thanh liêm và trong sáng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà. Hy vọng bài viết này thay cho lời phân ưu muộn màng gửi tới đại gia đình Hoàng Cơ và phu nhân Phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh.

Phan Lạc Tiếp


Bàn ra tán vào ( 2 )

su doan 21 bb

 
Tuong Hoang Co Minh la vi tuong gan da va yeu nuoc, nen toi co lap bia tho ong o sau vuon cung voi cac vi tuong ta da chet that la anh dung nhu: Tuong Nguyen Khoa Nam, Tuong Le van hung, Tuong Pham Van Phu, Tuong Tran Van Hai, Tuong Le Nguyen Vy,Chi si Tran Van Ba, Dai ta Ho Ngoc Can, Trung Ta Nguyen Van Long.

 
Toi con nho la luc toi tung su tai Quan Doan IV Tu Dinh Tu Lenh Pho Chuan Tuong Le Van Hung,Tai phong khach cua Tu Dinh Tuong HUNG co treo buc tranh hinh chiec thuyen buom cua Dai Ta HOANG CO MINH tu lenh luc luong thuy bo than tang. Chi co mot buc tranh cua Ong MINH ma thoi tai phong khach , thi phai biet Tuong Hung qui men Ong MINH co nao.

 
Tuong LE VAN HUNG la mot vi tuong Tai, Gioi va liem khiet Ca doi Ong tung lam Quan Truong, Tieu Doan Truong, Trung Doan Truong Tinh Truong, Tu Lenh Su Doan, Tu Lenh Pho Quan Doan den khi Ong TUAN TIET chua co duoc can nha rieng de o, ong o toan la nha chinh phu cap. Con nhu nhieu nguoi phe binh Tuong Hoang Co Minh thi toi xin hoi mot cau cac ban co dam bo tat ca o MY ma ve chien khu nhu Tuong MINH hay khong?
 
 
THACH HOA TRANG can tu.

Phó Đề đốc Hoàng cơ Minh

Một vị tướng xứng đáng được vinh danh là anh hùng.

Chau Nguyen

Tuesday, October 9, 2012

Hộ tống hạm HQ.11 trong tháng tư 1975


Hộ tống hạm HQ.11 trong tháng tư 1975


Tác giả: VŨ NGỌC VĂN và trích từ Nguyễn D. Quan’s email

LỜI NÓI ĐẦU:

Bài hồi ký này đã được đăng trên Đặc san Gươm Thiêng phát hành ngày
19-06-1985. Gần đây có vài hồi ký liên quan đến trận chiến tại eo biển Cà Ná Phan Rang mà HQ.11 đã tham dự. Vì thế, tác giả cố gắng viết lại bài hồi ký năm cũ bằng những điều mắt thấy tai nghe, cập nhật những dữ kiện mới cùng loại bỏ các chi tiết sai sót trước đây để ghi nhớ công lao của thuỷ thủ đoàn HQ.11.

Nhớ một kỷ niệm vui trên đài chỉ huy một buổi tối năm xưa khi chiến hạm tham dự các cuộc di tản dồn dập trong tháng 4/1975, Hạm Trưởng thấy thuộc cấp qúa mệt mỏi trong nhiệm sở tác chiến liên tục, mới hỏi đùa một nhân viên giám lộ người miền Nam: “Phấn, mày có biết Hà Nội chưa?”. Hạ Sĩ giám lộ Phấn trả lời: “Dạ, chưa” thì Hạm Trưởng tiếp: “Đời mày chưa biết Hà Nội, đến đời con mày sẽ không biết Huế, Đà Nẵng rồi đến đời cháu mày sẽ không biết Sài Gòn”. Cả đài chỉ huy cười vui mà thấm thía, tôi lúc đó mới buột miệng nói: “ Con cháu của Phấn không biết Huế, Sài Gòn nhưng chúng nó biết Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi thưa hạm trưởng”.

Không ngờ câu nói đùa vui hôm đó đã là điềm báo trước cho cuộc đời tha hương lưu lạc nơi xứ người của phần lớn thủy thủ đoàn HQ.11. Bây giờ, Hạm Trưởng Hải QuânThiếu Tá Phạm Đình San đang lưu lạc bên miền Nam California; Hạm Phó HQ. Thiếu Tá Trần Đức Huân trôi giạt sang đất Úc và đã ra người thiên cổ năm 1987; Sĩ quan đệ tam Hải quân Đại Úy Vũ Đức Thiệu cư ngụ tại Santa Ana từ năm 1991; Cơ Khí Trưởng HQ Trung Úy Cơ Khí Ngô Việt Hùng định cư tận vùng đất giá băng lạnh lẽo thành phố hải cảng Halifax, tiểu bang Nova Scocia, Canada; trưởng phiên chi đội 1 hải hành HQ. Trung Úy Nguyễn Lộc Thọ đang định cư tại Montreal, Canada; trưởng phiên chi đội 2 HQ Trung Úy Huỳnh Thiện Khiêm đang ở Melbourne cùng vợ con và đàn cháu ngoại; trưởng phiên chi đội 3 HQ Trung Úy Nguyễn Đắc Minh (Khóa 25 Võ Bị) sang Mỹ muộn màng theo diện HO cơ cực vất vả ở San Jose. Dù đã hơn 37 năm qua từ khi tàn cuộc chiến, nhưng mỗi khi tháng Tư về lòng tôi vẫn ngậm ngùi nhớ lại những kỷ niệm năm xưa của một thời chinh chiến còn in đậm trong ký ức:

Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài một tháng Tư.
(thơ Cao Tần)

Chiều ngày
31-03-1975 Hộ Tống Hạm HQ.11 được lệnh khẩn cấp từ Cam Ranh hải hành ra Qui Nhơn để bảo vệ thành phố này đang bị áp lực Cộng quân uy hiếp nặng nề. Trước đó chiến hạm đã di tản Duyên Đoàn 21 tại Đề Gi về căn cứ Cam Ranh. Qui Nhơn là thành phố phía Bắc của Quân Khu 2 thuộc khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn 22 Bộ Binh do Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm chỉ huy, bây giờ đang là ải địa đầu chống trả các đợt tấn công ồ ạt của các Sư Đoàn CS vì Quân Khu 1 ở Đà Nẵng đã di tản từ hai ngày qua. Lúc ấy vào khoảng 6 giờ chiều ngày 31-03-1975, HQ.11 còn cách Qui Nhơn 50 hải lý, tôi lên đài chỉ huy nhận phiên trực hải hành từ 6 giờ đến 8 giờ tối. Vừa bước lên đài chỉ huy, tôi nhận thấy một bầu không khí căng thẳng vì đông đảo các sĩ quan hiện diện.

Hạm Trưởng là Hải Quân Thiếu Tá Phạm Đình San (Khóa 10 SQHQ/Nha Trang) bận rộn liên lạc trên máy truyền tin với các giới chức thẩm quyền tại Qui Nhơn, được biết tình hình tại đó đang nguy ngập cần gấp các chiến hạm đến yểm trợ hải pháo. Cùng lúc đó, chiến hạm tôi thấy lố nhố nhiều chiến hạm bạn đang trên đường từ Đà Nẵng di tản về, bắt đầu bằng những chấm đen nhỏ xa tít tắp từ cuối đưòng chân trời. Đó là các chiến hạm chuyển vận thuộc hạm đội Hải Quân Việt Nam đang di tản các đại đơn vị của Quân Đoàn 1 như các Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 3 Bộ Binh,...từ Đà Nẵng về Cam Ranh hoặc Vũng Tàu.

Mọi người hiện diện trên đài chỉ huy đều ngỡ ngàng vì không ngờ tướng Ngô Quang Trưởng lại để Quân Khu I thất thủ nhanh chóng đến như thế. Chiến hạm vẫn lặng lẽ tiến về phương Bắc, ngược chiều với các chiến hạm bạn đang lũ lượt di tản, chạy cách bờ khoảng 6 hải lý (tương đương gần 11 km). Mặt trời đang chiếu những tia nắng yếu ớt của buổi chiều tà, bóng tà dương tròn đỏ thẫm đang từ từ lẩn khuất sau dãy Trường Sơn như giấu mặt để khỏi chứng kiến cảnh đau lòng của quân dân miền Nam đang trốn chạy làn sóng đỏ.

Khi mặt trời vừa khuất bóng, tiếng còi trên đài chỉ huy vang lên để cử hành lễ hạ kỳ. Mọi người đứng nghiêm chào lá quốc kỳ đang hạ xuống, sau đó chiến hạm bật đèn hải hành. Lúc đó các chiến hạm bạn đang tiến đến gần, đèn hải hành xanh đỏ lấp lánh cả một vùng biển trước mặt. Hạm Trưởng cho giám lộ đánh đèn để nhận diện từng chiến hạm. Thôi thì đủ cả, nào là HQ.501,HQ.503, HQ.404, HQ.802, HQ.402, HQ.801....

Được biết Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đang di tản trên chiến hạm HQ.404. Các chiến hạm nhỏ thì chạy sát bờ chen lẫn các duyên tốc đĩnh PCF, Coast Guard, Yabuta,... Qua máy truyền tin, Hạm Trưởng HQ.501 là HQ Trung Tá Võ Duy Kỷ (Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) cho hạm trưởng tôi biết tình hình thê thảm tại Đà Nẵng và riêng cá nhân anh bị kẹt vợ con ngoài đó, lái tầu xuôi Nam mà lòng anh đau như cắt. Đó là hình ảnh đau thương mà có lẽ trong đời tôi mới có dịp chứng kiến một quân đoàn di tản thê thảm như thế.

 
Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ.11
 HQ.11 vẫn lặng lẽ ngược chiều với các chiến hạm bạn tiến về phương Bắc hướng về Qui Nhơn trong đêm. Sáng ngày 01-04-1975, chiến hạm yểm trợ hải pháo cho các đơn vị bộ binh trong bờ. Thành phố đang rơi vào tình trạng nguy ngập, các đơn vị đóng quân của Tiểu Khu Bình Định và Sư Đoàn 22 Bộ Binh đang bị Cộng quân pháo kích nặng nề. Doanh trại của Hải quân đóng cạnh cửa sông gồm Hải Đội 2 Duyên Phòng và Tiền Doanh Yểm Trợ Tiếp Vận Qui Nhơn dưới quyền chỉ huy của HQ Trung Tá Võ Hữu Danh và HQ Trung Tá Lê Văn Thự đang chuẩn bị di tản.
 
Quanh cửa biển, các chiến hạm thuộc Hải Đội Tuần Dương đều hiện diện đông đủ dưới sự chỉ huy tổng quát của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, phụ tá bởi Tư Lệnh Hạm Đội là HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn. Tướng Minh đã được chỉ định chức vụ Tổng Trấn Qui Nhơn thay thế Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm di tản ra biển trên một chiếc PCF vì kiệt sức ho ra máu chạy ra chiến hạm HQ.11.

Hạm Trưởng tôi vội trình sự việc cho tướng Minh vừa đến Qui Nhơn biết và được lệnh chỉ thị chiếc PCF chở tướng Niệm sang HQ.3 có tướng Minh để tịnh dưỡng, giao quyền chỉ huy lại cho viên Tư Lệnh Phó tên là Trung điều động sư đoàn di tản.


Buổi sáng hôm đó, Qui Nhơn hầu như đắm chìm trong vùng lửa đạn, SĐ 22 BB đang bị VC tấn công dữ dội, Đại Tá Tư Lệnh Phó Trung đã bình tĩnh điều động các trung đoàn dưới quyền đẩy lui các đợt tấn công, khéo léo rút dần vào thành phố để ra cửa biển cho các tàu nhỏ Hải quân bốc ra khơi.

Khoảng 10 giờ sáng, doanh trại Hải quân được lệnh phá hủy, đài kiểm báo cũng đốt bỏ trước khi di tản. HQ.11 đã đón nhận khoảng trên 200 quân nhân Hải Quân di tản này. Trên mặt biển, các duyên tốc đỉnh PCF dưới sự chỉ huy của Trung Tá Danh lướt sóng chạy ngang dọc và bắn súng cối 81 ly vào bờ để yểm trợ các đơn vị bạn trên đường rút ra biển di tản. Trong lúc hải pháo, một duyên tốc đỉnh đã bị tai nạn khi quả đạn 81 ly nổ tại nòng khiến cho xạ thủ tử thương tại chổ. Đến trưa 01-04-1975 Cộng quân đã tiến chiếm nhiều nơi trong thành phố, các đơn vị bộ binh trên đường rút lui đã bị VC pháo kích đuổi theo gây nhiều tổn thất về nhân mạng.

Tướng Hoàng Cơ Minh liền ra lệnh tất cả chiến hạm được phép xử dụng hỏa lực tối đa bắn vào các vị trí CS trong thành phố. Tư lệnh Hạm Đội liên tục gọi máy cho chiến hạm tôi bắn hải pháo vào bờ. Hạm Trưởng vì mấy ngày liền nói chuyện, hò hét trên máy truyền tin nên bị khan giọng mệt lả. Các chiến hạm đồng loạt nã hải pháo vào bờ, gây ra những đám cháy với những cột khói đen mù mịt bầu trời. Nhờ thế mà các đơn vị Bộ Chì Huy 2 Tiếp Vận, Tiểu Khu và các Trung Đoàn của SĐ22BB mở đường máu chạy ra bờ biển và bơi ra các chiến đỉnh. Sau này chúng ta ghi nhận một tấm gương tuẫn tiết thật can trường của vị Đại Tá Trung Đoàn trưởng TrĐ.42 BB Nguyễn Hữu Thông đã tự sát không chịu di tản.

Đến 4 giờ chiều, trong lúc HQ.11 đang say sưa nã 76,2 ly vào khu vực Cầu Đôi và trận chiến càng khốc liệt hơn với từng toán quân nhân túa ra bờ biển di tản thì máy truyền tin nhận được tin khẩn cấp từ Trung Tâm Hành Quân Vùng 2 Duyên Hải tại Cam Ranh cho biết Nha Trang đang hối hả di tản, thành phố đang bỏ trống vì Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã hoàn toàn mất liên lạc. Tướng Hoàng Cơ Minh chỉ thị cho chiến hạm tôi chỉ huy một chiếc Hộ Tống Hạm và một Trợ Chiến Hạm lập tức trở về Cam Ranh ngay, bỏ lại sau lưng cảnh chiến trường khốc liệt với lửa đạn ngút trời.

Vài giờ sau, tin xấu lại nhận thêm là Tiểu Khu Khánh Hòa, Đặc Khu Cam Ranh, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang do Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu làm Chỉ Huy Trưởng đã di tản. Tướng Minh vội huy động các chiến hạm, chiến đĩnh tác xạ tối đa và tiến sát vào bờ để bốc các chiến hữu bộ binh càng nhiều càng tốt.

Sau đó, ông giao chiến trường lại cho HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn chỉ huy, tướng Minh theo HQ.3 rời vùng trở về Cam Ranh trước. Thế là chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, tình hình chiến sự đã suy sụp quá mau chóng, ngoài sức dự liệu của các cấp chỉ huy, tướng Minh đã trúng kế “điệu hổ ly sơn” của thượng cấp khi chỉ định ông làm Tổng Trấn Qui Nhơn khiến ông bỏ nhà trống, dốc toàn lực lượng ra chiến đấu tận Qui Nhơn xa xôi này, trong khi Cam Ranh và Nha Trang đang bỏ chạy.

Đêm hôm đó, đi phiên hải hành ai nấy đều mỏi mệt, kinh hoàng vì các biến cố đau xót ập xuống đất nước dồn dập. Trên hệ thống âm thoại đêm đó, tôi nghe được giọng nói lo âu của HQ Đại Tá Nguyễn Văn Hớn Tư Lệnh Phó V2DH báo cáo tình hình cho tướng Minh:
- Trình thẩm quyền, nhà lớn hiện nay đã mất liên lạc với Quân Đoàn 2, Tiểu Khu Khánh Hòa, TTHL/HQ/Nha Trang, Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận cùng tất cả các đơn vị bộ binh tại đây. Chỉ còn duy nhất Hải Quân tại bán đảo này. Xin thẩm quyền cho chỉ thị để tôi thi hành.

Tướng Minh vẫn điềm tĩnh, giọng nói dõng dạc trong máy:
- Tôi nhận rõ, anh ở nhà cố gắng điều động thuộc cấp giữ vững vị trí, chờ tôi về.

- Thẩm quyền cho biết bao giờ mới về tới nhà lớn? (
Cam
Ranh)

-  Khoảng 4 giờ chiều mai.

Đến 6 giờ chiều 02-04-1975 chiến hạm tôi về đến vịnh Cam Ranh chở hơn 200 quân nhân Hải Quân di tản, chiến hạm nhận lệnh neo, chờ lệnh mới chứ không được phép cặp cầu. Tướng Minh đã về đến trước đó vài giờ, ông vừa điều động BTL/V2DH chuẩn bị di tản và xin lệnh của Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Phó Đề Đố Diệp Quang Thủy nhiều lần lên máy bảo chờ lệnh Bộ Tổng Tham Mưu.

Từng giây phút căng thẳng chờ đợi chậm chạp trôi qua, tướng Minh phải thúc hối mãi, cuối cùng mới nhận được lệnh ngắn gọn từ tướng Thủy: “RÚT BỎ CAM RANH”. Thế là một căn cứ hải quân tối tân, đầy đủ tiện nghi rộng lớn phút chốc được lệnh phá hủy, đặc biệt là kho đạn, bồn dầu, trung tâm truyền tin điện tử... Cuối cùng đoàn hạm đội rút khỏi vịnh Cam Ranh chở theo một số lớn đồng bào, chiến hữu di tản một lần nữa về Vũng Tàu.

Trên đường xuôi Nam, chiến hạm tôi đã khéo léo tước đoạt vũ khí cá nhân của tất cả quân nhân quá giang để tránh sự nổi loạn trên tàu. Khi đến Vũng Tàu, chiến hạm cặp vào cầu Alaska trong Căn Cứ Hải Quân Cát Lở để cho số quân dân di tản lên bờ. Nghỉ bến chỉ được một ngày, chiến hạm tôi sau khi đi chợ mua thực phẩm, tiếp tế nhiên liệu, nước ngọt đầy đủ lại nhổ neo lên đường ra tăng phái cho chiến trường Phan Rang cùng với các chiến hạm tuần dương khác. Sáng ngày 05-04-1975 chiến hạm tôi có mặt tại vùng biển Phan Rang. Được biết tỉnh lỵ này cũng đang hỗn loạn, Đại Tá Tự là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng đã bỏ nhiệm sở di tản về Vũng Tàu trước đó, nhưng sau ông phải nhận lệnh trở lại Phan Rang tử thủ.

Trong những ngày chiến hạm tôi yểm trợ vùng biển này, có lần HQ.11 được lệnh ra thám sát tình hình tại vịnh Cam Ranh. Từ ngoài khơi cách bờ 3 hải lý, quan sát bằng ống nhòm, chúng tôi đã thấy bóng Cộng quân xuất hiện, lá cờ xanh đỏ đã treo trên cột cờ. Hạm Trưởng liền gọi máy báo cáo cho tướng Hoàng Cơ Minh biết rõ sự tình, tướng Minh liền xin máy bay ra oanh tạc.Hiện nay, khu vực trách nhiệm của tướng Minh thu hẹp chỉ còn hai tỉnh Phan Rang và Phan Thiết mà thôi. Trong thời gian này chúng tôi nhận một cái tin đau buồn cho quân chủng là thủ khoa khóa 9 SQHQ/Nha Trang là HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương đã tự sát tại quân trường Nha Trang cùng với vợ và 3 đứa con vì bị kẹt lại không xuống tàu di tản kịp

Sau những ngày bi thảm đầu tháng Tư, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh Phan Rang lập thành “Phòng Tuyến Lửa” nhằm ngăn chận làn sóng đỏ tại nơi quê hương của Tổng Thống. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi được giao phó trọng trách này, giữ chức Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 3, dưới quyền có Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 6 Không Quân, Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh Tư Lệnh Hải Quân Vùng 2 Duyên Hải. Ngoài ra Phan Rang còn được tăng phái thêm Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù do Đại Tá Nguyễn Thu Lương chỉ huy. Trong thời gian này, tỉnh lỵ Bình Thuận bị áp lực Cộng quân nặng nề, tỉnh lỵ bị pháo kích từng đợt không dứt.

Sáng ngày 16-04-1975 Phan Rang bị thất thủ, Trung Tướng Nghi và Chuẩn Tướng Sang lọt vào tay Cộng quân , Chuẩn Tướng Nhựt leo trực thăng bay thoát ra biển được tuần dương hạm HQ.3 cứu vớt. Phan Rang mất, Phan Thiết bị áp lực CS đè nặng hơn vì ban đêm từng đoàn quân xa của địch rất dài rọi đèn pha tiến về phương Nam, từ ngoài khơi nhìn thấy rất rõ tại eo biển Cà Ná. Đêm hôm đó, HQ.11 cùng với một số chiến hạm vẫn tuần tiễu vùng biển Phan Rang, phát hiện từng đợt quân xa địch pha đèn chạy trên quốc lộ 1 ngang Cà Ná dài cả mấy cây số. Chiến hạm vội nã đại bác vào bờ, đồng thời báo cáo cho tướng Minh xin phi cơ ra oanh tạc. Hai phi đội F.5 và A.37 bay đến oanh tạc, bị lực lượng phòng không địch bắn trả dữ dội, đạn lửa đan kín một vùng trời. Một máy bay A.37 bị bắn rớt, phi công nhảy dù đáp trên một ngọn núi (có thể là phi công Lý Tống).

Sáng ngày 17-04-1975 toàn tỉnh Phan Rang hầu như nằm trong vùng kiểm soát của CS, chỉ còn kẹt lại một vài đơn vị nhỏ Nhảy Dù đang kẹt gần eo biển Cà Ná, chuẩn bị rút về quận lỵ Tuy Phong cách đó 10 km để chờ các tàu Hải Quân vào đón. Dương Vận hạm HQ.503 đang thả neo ngoài khơi cách bờ 5 hải lý, chỉ huy chiến thuật các chiến hạm trong vùng đang nhận người di tản chạy ra tàu. Trong lúc đó, tướng Minh đang trên HQ.17 ra đây để trực tiếp chỉ huy, ông đích thân chỉ thị cho Hạm Trưởng tôi phải bắn sập cây cầu Núi Chẹt tại eo biển Cà Ná để cắt đứt đường chuyển quân của địch vào Phan Thiết. Được biết cây cầu này rất kiên cố, được hãng thầu RMK xây cất nên khó lòng triệt hạ được.

Tuân lệnh tướng Minh, chiến hạm tôi trong nhiệm sở tác chiến toàn diện suốt ngày hôm đó, tiến vào gần bờ và chạy song song để hai khẩu 76,2 và 40 ly cùng đồng loạt tác xạ. Bắn nhiều lần nhưng cây cầu vẫn cứ trơ trơ. Trong khi đó, viên phi công lâm nạn trên ngọn núi đêm qua, thỉnh thoảng dùng tấm gương rọi ánh nắng mặt trời ra chiến hạm xin tiếp cứu. Chiến hạm chỉ biết xử dụng quang hiệu đánh đèn an ủi viên phi công, nhưng biết làm sao mà tiếp cứu đây!

Đến 2 giờ chiều, đơn vị Dù bị VC tấn công dồn dập, được lệnh mở đường máu tiến về quận Tuy Phong để các chiến đỉnh thuộc Duyên Đoàn 27 đón ra khơi. Hạm Trưởng nóng lòng vì bắn mãi không triệt hạ được cây cầu nên đổi chiến thuật, vận chuyển chiến hạm từ ngoài khơi nhắm thẳng vào cây cầu để cho khẩu pháo 76,2 bắn thẳng từng phát vào chân cầu, nhưng kết quả vẫn chưa như ý. Khi tàu còn cách bờ nửa hải lý, bất ngờ 4 chiếc xe tăng T.54 của VC lù lù xuất hiện, pháo ra chiến hạm tới tấp. Con tàu vội vận chuyển đổi hướng ra khơi, Hạm Trưởng ra lệnh tay lái hết bên trái, đồng thời tăng vận tốc từ “hai máy tiến hai” sang thành “hai máy tiến ba”(chiến hạm bị cong trục láp từ trước, chưa được lên ụ sửa chữa nên không thể chạy “hai máy tiến full” được).

Lúc đó, tôi đứng trên đài chỉ huy, nhìn vào trong bờ thấy 4 khẩu pháo trên xe tăng VC đua nhau chớp lửa,từng quả đạn rít gió bay ra chiến hạm âm thanh réo rú đến rợn người, rớt xuống biển nổ vang tạo nên những cột nước trắng xóa bao quanh chiến hạm. Hạm Trưởng vẫn điềm tĩnh lái tàu ra khơi, đồng thời ra lệnh cho các khẩu pháo sau đài chỉ huy tác xạ vào bờ phản pháo. Con tàu lắc lư, máy tàu gầm rú chạy xịt khói, chân vịt rung chuyển khua vang cùng các khẩu hải pháo đua nhau nổ ròn rã như tiết tấu bản nhạc của tử thần.

Mãi hơn mười phút sau, con tàu mới chạy thoát khỏi tầm đạn của đối phương. Hai khẩu đại bác 40 ly ở sân giữa vì bắn trả liên tục quá nhiều nên nóng đỏ cả nòng súng, viên đạn không bay đi xa được. Kiểm soát lại sự tổn thất, chiến hạm tôi chỉ bị trúng duy nhất một quả đạn xuyên hông từ tả hạm lúc con tàu quay mũi đổi hướng ra khơi đưa cả hông tàu cho VC bắn, làm cho Thượng Sĩ I Vô Tuyến Nguyễn Văn Bàng tử thương và hai thủy thủ khác bị thương nơi xương sống. Đau xót cho Thượng Sĩ Bàng, đêm qua anh vừa nhận điện tín vợ con đã di tản từ Nha Trang vào đến Sài Gòn. Tin vui vừa nhận được còn đó thì nay anh đã đền nợ nước, vĩnh biệt vợ hiền con thơ, vĩnh biệt các chiến hữu cùng anh chống trả bọn Cộng sản vô thần trong những ngày tối đen của tổ quốc. Hạm Trưởng với nét mặt đầy xúc động, lên máy báo cáo trực tiếp cho tướng Minh:

- Trình thẩm quyền, chiến hạm tôi vừa đụng độ với xe tăng T.54 Việt Cộng, một thằng em bị bắn nát đầu thê thảm quá, hai thằng em khác bị thương. Bây giờ nghĩa tử là nghĩa tận, xin phép thẩm quyền cho tôi được rời vùng để đưa các em tôi về Sài Gòn. Đầu máy bên kia, tướng Minh ngỏ lời chia buồn và khuyên giải:

- Nhân danh Tư Lệnh Mặt Trận, tôi gửi lời chia buồn đến toàn thể thủy thủ đoàn HQ.11 và chia buồn cùng gia quyến chiến hữu vừa mới hy sinh. Nhưng tình hình mặt trận tại đây quá nguy ngập, đang cần sự có mặt của anh để cùng tôi bảo vệ vùng biển này. Tôi sẽ không quên công lao đó của các anh em, vậy anh nghĩ sao? - Xin tuân lệnh thẩm quyền, HQ.11 sẽ sát cánh với thẩm quyền trong những giờ phút này. Đề nghị thẩm quyền cấp phương tiện cho tôi để đưa xác và tải thương các em tôi về Sài Gòn.

- Được, tôi sẽ phái thằng HQ.608 đến giúp anh việc đó.

Khoảng 7 giờ tối, tuần duyên hạm HQ.608 cặp bên tả hạm HQ.11 để tải thương và đưa thi hài Thượng Sĩ Bàng về Sài Gòn. Thủy thủ đoàn HQ.11 tập họp nơi sân lái để làm lễ tiễn đưa vĩnh biệt Thượng Sĩ Bàng. Nhìn xác anh mất đầu được bó gọn trên chiếc băng ca khiến anh em đều bồi hồi thương xót. Hạm trưởng ứng khẩu đọc một bài điếu văn tiễn biệt. Vẫn biết rằng cuộc đời lính chiến thì cái chết ập xuống bất ngờ nào ai tránh khỏi, nhưng nhiều anh em đã khóc vì tiếc thương anh. Xong phần nghi lễ, xác anh được chuyển sang HQ.608 cùng với một số nhân viên tháp tùng do Thượng Sĩ Trọng Pháo Tiếp làm trưởng toán để tham dự tang lễ của anh. Sau này nghe các anh ấy về kể lại, khi HQ.608 cặp cầu Cát Lái, xác anh được đưa thẳng vào nghĩa trang quân đội Biên Hòa, sau đó mới báo tin cho vợ con vào nhìn anh lần cuối. Vợ anh đã khóc ngất khi nhìn thấy thi thể anh, kêu gào thảm thiết: “Cái đầu của chồng tôi đâu? Trả cái đầu lại cho chồng tôi!!” làm cho mọi người hiện diện đều rướm lệ:

Anh mặc làm chi màu áo trắng
Để em nhìn thấy lại thêm thương
Anh ơi, sao nỡ chia lià vội
Để lệ ai rơi mấy dặm đường
(thơ Thụy Châu)

Đó là hình ảnh cái chết của một chiến hữu của tôi trên chiến hạm HQ.11 trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam mà tôi mạn phép tường thuật mất dòng tỉ mỉ trên đây.


Dương Vận Hạm Vũng Tàu HQ.503
 
Sáng ngày 18-04-1975 tình hình tại Cà Ná đã quá nguy ngập, các đơn vị bạn tại đây đều bị chận đường di tản và mất liên lạc, chỉ có một số nhỏ chạy thoát xuống quận Tuy Phong. Hộ Tống Hạm HQ.07 vào thay thế HQ.11 tiến vào gần bờ để yểm trợ bị VC pháo ra dữ dội nhưng may mắn vô sự. Khoảng 5 giò rưỡi chiều, Dương Vận Hạm HQ.503 đang ở vị trí cách bờ 4 hải lý (khoảng 7 cây số, một hải lý = 1852,25m) bị Cộng quân pháo ra dồn dập.

Đài chỉ huy bị trúng đạn nổ tung, gây nhiều tổn thất thương vong cho thuỷ thủ đoàn (trong đó có 4 sĩ quan hy sinh) và Hạm Trưởng HQ Trung Tá Nguyễn Văn Lộc bị thương ở đầu. Hạm Trưởng Lộc đã trúng mảnh đạn vào đầu, máu tuôn lênh láng. Ông đã mang mảnh đạn trong đầu khi di tản tị nạn sang Hoa Kỳ 1975, không thể giải phẩu mổ ra được suốt 30 năm trường, cuối cùng ông đã qua đời tại San Jose, California năm 2005. Các chiến hạm trong vùng vội chạy đến tiếp cứu và hải pháo vào nơi đặt súng của Cộng quân.

Riêng HQ.11 đang neo ở phía Nam cách đó 2 hải lý, vội vàng nhấn còi nhiệm sở vận chuyển và tác chiến đồng loạt, kéo neo vừa chạy vừa bắn 76.2 vào bờ. Tôi thấy HQ.503 cứ chập choạng quay mũi vào bờ, trong khi các trái đạn pháo nổ văng nước tung tóe quanh tàu, lúc bị trúng đạn thì bụi khói đen như trái nấm tung lên. Mãi một lúc lâu, HQ.503 mới lên máy liên lạc, báo cáo trở ngại vận chuyển. Hạm Trưởng tôi vội ban lệnh cho thủy thủ đoàn chuẩn bị dây giòng để đến kéo HQ.503.

Thủy thủ đoàn tập họp nơi sân giữa, chuyền tay kéo từng khúc dây giòng to tướng như con trăn từ dưới hầm chuyển lên làm cho ai nấy đều mệt lả vì cuộn dây quá dài. May mắn làm sao, HQ.503 lúc đó báo cáo tự vận chuyển được và cũng là lúc tướng Hoàng Cơ Minh lên máy chỉ thị cho HQ.11 được phép rời vùng và hộ tống HQ.503 về Sài Gòn.

Trên đường hải hành, khoảng 9 giờ tối đêm hôm đó, chiến hạm đang chạy ngang vùng biển Phan Thiết thì cũng vừa nhận tin tỉnh lỵ này vừa thất thủ, viên Đại Tá Tỉnh Trưởng đã chạy đến Duyên Đoàn 28 để xuống tàu di tản ra khơi và trên đường đến trình diện tướng Minh. Thế là toàn cõi Quân Khu 2 đã hoàn toàn thất thủ kể từ tối
18-04-1975 sau nhiều cố gắng ngăn chận làn sóng đỏ bất thành. Nửa đêm đó, tôi lên phiên trực hải hành, nghe trên hệ thống âm thoại HQ.503 báo cáo về Trung Tâm Hành Quân Biển tại Sài Gòn danh sách tổng cộng 25 chiến hữu thương vong mà lòng buồn não nuột.

Khoảng 10 giờ sáng 19-04-1975, chiến hạm tôi và HQ.503 đã về tới cửa biển Vũng Tàu. HQ.503 được lệnh vào sông Lòng Tào về Sài Gòn sửa chữa khẩn cấp dưới sự hộ tống của các chiến hạm khác. HQ.11 nhận lệnh neo tại Vũng Tàu nghỉ bến, đi chợ mua thực phẩm, nhận tiếp tế đạn dưọc, nhiên liệu, nước ngọt chuẩn bị cho chuyến công tác sắp tới. Đồng thời, chiến hạm được thay thế hai nòng súng 40 ly mới. Thủy thủ đoàn rất mệt mỏi và tinh thần căng thẳng vì tham dự các trận chiến khốc liệt liên tiếp suốt mấy tuần qua.

Nghỉ bến được 36 tiếng, đúng 1 giờ sáng ngày
21-04-1975 chiến hạm nhận lệnh sẳn sàng nhổ neo lên đường công tác. Phó Đề Đốc Vũ Đình Đào Tư Lệnh Hải Quân Vùng 3 Duyên Hải từ một chiếc duyên tốc đĩnh cặp vào và được Hạm Trưởng đón tiếp lên tàu, cờ một sao Đô Đốc được kéo lên bay phất phới trên cột cờ. Chiến hạm kéo neo hải hành ra mặt trận Bình Tuy trực tiếp chỉ huy vùng lãnh hải trách nhiệm của ông thay thế cho tướng Hoàng Cơ Minh.

Khoảng 8 giờ sáng, chiến hạm tôi đã đến nơi, vẫn đông đủ các chiến hạm bạn quanh vùng. HQ.11 từ từ cặp vào HQ.16 đang có mặt tướng Minh ở đó, tướng Minh vẫn tươi cười giơ tay vẫy chào tướng Đào. Khi chiến hạm vừa cặp xong, tướng Minh cùng với Hạm Trưởng HQ.16 là HQ Trung Tá Lê Văn Thì sang thăm viếng tàu tôi. Hạm Trưởng San đã hướng dẫn nhị vị tướng quân đi quan sát chỗ tàu tôi bị trúng đạn, lỗ đạn bắn thủng thành tàu và xuyên phá qua 5 lớp vách tàu rồi xuyên ra ngoài. Tướng Minh đã ngỏ lời ngợi khen lòng dũng cảm của toàn thể thủy thủ đoàn và hứa sẽ tưởng thưởng xứng đáng.

Sau đó, tướng Minh bàn giao vùng trách nhiệm cho tướng Đào để trở về Sài Gòn nhận nhiệm vụ mới. Vài ngày sau, ông đã giữ đúng lời hứa, gửi công điện ra chiến hạm tôi ban thưởng rất nhiều huy chương và cho 2 nhân viên được thăng cấp đặc cách. Hạm Trưởng đã gửi phiếu trình đề nghị thăng cấp đặc cách cho Cơ Khí Trưởng là HQ Trung Úy Cơ Khí Ngô Việt Hùng và Hạ Sĩ I Vận Chuyển Viễn

Sau khi tướng Đào và bộ tham mưu sang HQ.16, chiến hạm tôi sang cặp chiếc Hải Vận Hạm HQ.400 để nhận lãnh thêm một số đạn đại bác. Tôi đã gặp vài người bạn trên chiến hạm này, ai nấy đều tay bắt mặt mừng, hỏi han nhau về những tin chiến sự dồn dập vừa qua, cùng thì thần to nhỏ tính toán chuyện đời mình nếu miền Nam sụp đổ. Các chiến hạm về Vũng Tàu đều dự trữ lương thực, gạo chất đầy kho, cá khô, nước mắm đóng thùng bốc mùi tanh tưởi..

Được những giây phút hiếm hoi hai chiến hạm cận kề bên nhau, hai hạm trưởng rút vào phòng riêng tâm tình bàn thảo, hai thủy thủ đoàn từng nhóm tụ lại với nhau bên ly cà phê nóng chuyện trò, đồng thời cùng xem tivi trên HQ.400 để theo dõi tin tức. Suốt mấy tuần qua, mọi người đều chăm chú nghe ngóng tin tức đột biến trong các giờ phát thanh của đài
BBC,VOA...mà đau xót, thở dài lo âu cho tình hình đất nước và thân phận mình. Bây giờ hai vị hạm trưởng này đều di tản sang Hoa Kỳ và định cư tại miền Nam California vùng Little Saigon
(HQ Trung Tá Võ Quang Thủ Hạm Trưởng HQ.400).

Tình cờ, chúng tôi được chứng kiến một quang cảnh lịch sử trên màn ảnh truyền hình đang trực tiếp tường thuật buổi lễ trao quyền Tổng Thống tại Dinh Độc Lập: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Lắng nghe bài diễn văn từ chức của ông Thiệu, chúng tôi đều thở dài ngao ngán. Ông Thiệu đã chửi Mỹ thậm tệ, tố cáo bạn đồng minh phản bội. Kết thúc bài diễn văn, ông Thiệu không quên hứa với đồng bào là tuy ông từ chức Tổng Thống, đồng bào sẽ có thêm một chiến sĩ, quân đội có thêm một trung tướng chiến đấu chống bọn Cộng sản đến cùng!!! Nhưng chỉ 4 ngày sau ông Thiệu đã nuốt lời hứa, cao chạy xa bay rời bỏ quê hương sang Đài Loan tối 25-04-1975 , bỏ lại đất nước và đồng bào bơ vơ sắp rơi vào gông cùm Cộng sản.

Yểm trợ mặt trận Hàm Tân được hai ngày thì tỉnh lỵ này lại bị Cộng quân tràn ngập. Quân ta trước khi di tản xuống tàu đã phá hủy kho đạn, phi trường cùng chiếc vận tải cơ C.130 bất khiển dụng tại đó. Đoàn hạm đội lại xuôi về
Nam
bảo vệ quận lỵ Xuyên Mộc. Thế là vùng hoạt động của Hải quân từ nay chỉ còn vỏn vẹn vùng đồng bằng đến mũi Cà Mau. Sáng ngày 24-04-1975, chiến hạm tôi được lệnh thẳng từ Trung Tâm Hành Quân Biển tại Sài Gòn tăng phái cùng 3 tuần dương hạm ra tái chiếm lại quần đảo Trường Sa. Trước đó, lực lượng trú phòng tại đảo này báo cáo về Sài Gòn là các chiến hạm của Hải quân Trung Cộng đã tới chiếm đảo. Nhớ lại ngày 19-01-1974, bốn chiến hạm của HQ/VN đã hải chiến một trận kịch liệt với các chiến hạm Trung Cộng gây nhiều tổn thất thương vong cho cả hai bên, đặc biệt chiến hạm cùng loại với chiến hạm tôi là HQ.10 bị chìm.

Tuân lệnh trên, HQ.11 cùng với ba chiến hạm bạn theo đội hình trực chỉ ra Trường Sa. Thủy thủ đoàn bận rộn chuẩn bị ôn tập lại các nhiệm sở, nào là tác chiến, phòng không, đào thoát... để sẳn sàng trận hải chiến sắp tới. Nhưng vài tiếng đồng hồ sau dó, khi các chiến hạm đã rời xa đất liền thì Sài Gòn gọi máy ra hủy bỏ lệnh hành quân đó và chỉ thị các chiến hạm quay về vùng công tác cũ. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm..

Trở lại vùng biển Xuyên Mộc, tôi thấy các chiến hạm bạn đang bận rộn yểm trợ hải pháo cho các đơn vị bộ binh trong bờ. Khoảng nửa đêm
24-04-1975
Phó Đề Đốc Vũ Đình Đào chỉ thị chiến hạm tôi cùng với chiếc tuần duyên đĩnh HQ.712 ra đảo Phú Quý để thiết lập đầu cầu di tản. Được biết đảo Phú Quý nằm ngoài khơi tỉnh Phan Thiết, cách đất liền 110 hải lý (200 km), nằm trên hải đạo từ Vũng Tàu đi Phi Luật Tân. Dân cư sinh sống trên đảo rất trù phú nhờ sinh sống bằng nghề đánh cá khá phát đạt.

Khoảng 7 giờ sáng ngày
25-04-1975
, HQ.11 cùng với HQ.712 đang lặng lẽ rẽ sóng hướng ra đảo Phú Quý thì phát hiện một chiến hạm Mỹ đang theo sát chúng tôi. Lúc ấy, mặt trời vừa ló dạng trước mũi chiến hạm, biển thật êm, tôi thấy chiến hạm Mỹ chạy song song với chiến hạm tôi khoảng cách 3 hải lý, bắt đầu dùng quang hiệu hỏi chúng tôi:

- What ship? Chúng tôi trả lời quang hiệu bằng tiếng Anh:
 
- Chiến hạm của Hải quân Việt Nam HQ.11. Chiến hạm Mỹ tiếp tục đánh đèn hỏi:

- Các anh là Hải quan miền Bắc hay
Nam Việt Nam
?

-
Nam Việt Nam
.

- Các bạn đi đâu?

Bị tra hỏi lôi thôi, hạm trưởng và mọi người trên đài chỉ huy đều bực dọc, buột miệng chửi thề. Ai đời trong vùng biển chủ quyền của Việt
Nam
Cộng Hòa mà một chiến hạm đồng minh dám xấc xược tra khảo láo lếu như thế. Hạm trưởng giận tím mặt, chửi thề om sòm, ra lệnh cho giám lộ đánh đèn trả lời:

- Chúng tôi đang thi hành công tác đặc biệt.
 
 
Khu trục hộ tống hạm USS Knox FF.1052

Nhận được câu trả lời như thế, chiến hạm Mỹ liền tăng máy tiến nhanh về hướng chiến hạm tôi. Hơn mười phút sau nó đã đến sát tàu tôi với các khẩu đại bác đều chĩa thẳng vào chiến hạm tôi. Chúng tôi nhận ra đây là chiếc USS.1052. Hạm trưởng vội liên lạc máy về Sài Gòn để can thiệp với Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ tránh ngộ nhận. Từng giây phút chậm chạp trôi qua, chiến hạm Hoa Kỳ chạy song song với tàu tôi với thái độ thiếu thân thiện. Hạm trưởng cho giám lộ đánh đèn với tàu Mỹ để nói chuyện bằng máy truyền tin VRC.46. Vài phút sau, hạm trưởng đã đàm thoại với hạm trưởng Mỹ bằng tiếng Anh để giải tỏa tình trạng căng thẳng và sau đó tàu Mỹ đã bỏ đi mất dạng.

Chiến hạm tôi vẫn tiếp tục hải hành và khoảng 1 giờ trưa thì đến đảo Phú Quý và thả neo cách bờ khoảng nửa hải lý tại phía Nam hòn đảo này. Từ ngoài khơi nhìn vào trong bờ, tôi nhận thấy dân chúng nơi đây có vẻ an cư lạc nghiệp, thái bình với những căn nhà gạch lợp ngói đỏ ẩn nấp bên những hàng dừa xanh sai trái.


Chỉ một giờ sau có một ghe nhỏ chở viên Xã Trưởng cùng với ba viên Thiếu Úy Phân Chi Khu Trưởng đại diện chính quyền địa phương ra tiếp đón. Các viên chức này báo cáo cho chúng tôi biết là đảo đã mất liên lạc với đất liền từ mười ngày qua và đang sống trong tình trạng lo âu. Trên đảo đang chứa rất đông đồng bào từ đất liền chạy trốn thảm cảnh chiến tranh và đang lánh nạn tại đây.

Hạm Trưởng liền báo cáo tin tức sơ khởi về Sài Gòn và đề cử Hạm Phó là HQ Thiếu Tá Trần Đức Huân lên bờ chỉ huy các đơn vị trên đảo. Hạm Phó Huân vừa đi phép về chiến hạm từ ba ngày qua.Nhưng giới chức thẩm quyền tại Sài Gòn không chấp thuận đề nghị này, chỉ thị hạm trưởng phải trực tiếp chỉ huy và gấp rút hoạch định kế hoạch để Sài Gòn đưa người di tản ra đảo. Trong lúc đó, chúng tôi phát hiện một chiến hạm Mỹ đang lảng vảng xa tít ở hướng Nam, có lẽ canh chừng mọi di chuyển của chiến hạm tôi. Chiều đó, hạm trưởng cho phép một nửa quân số cùng với hạm trưởng lên bờ chơi và thám sát tình hình. Còn hạm phó và một số anh em ở lại trực tàu.

Thế là sau mấy tuần lễ gian khổ, hiểm nguy vì liên tục tham dự các trận chiến khốc liệt, chứng kiến cảnh di tản bi thảm của quân dân miền Nam, ai nấy đều mệt mỏi, lo âu. Chiều nay mới được thảnh thơi lên bờ dạo phố, mặc dầu chỉ là một hải đảo xa xôi để tạm quên đi bao nỗi nhọc nhằn vừa qua.Kiếp sống người thủy thủ cũng lắm vất vả, truân chuyên như thế đó. Ngày đêm theo chiến hạm lênh đênh trên biển cả đã bị vùi dập bởi những cơn biển động phũ phàng, thủy thủ đoàn mệt ngất ngư vì “say sóng”.

Khi lên bờ dạo phố, đôi chân bước trên mặt đất mà vẫn thấy đất trời đang quay cuồng như cảnh con tàu đang lắc lư làm cho anh em lảo đảo vì “say đất”. Để rồi có vài anh em vừa hết cơn say đất, lại để hồn mình chơi vơi vì sóng mắt của giai nhân khiến cho mình lại lạc vào cơn say êm đềm thú vị nhất đó là “say tình”. Có thể nói cuộc đời lênh đênh phiêu bạt của người lính biển trong những ngày tháng gắn liền với trùng dương làm cho anh em có ba cái thèm mãnh liệt: thứ nhất thèm rau, thứ nhì thèm rượu, thứ ba là thèm ... đàn bà! Khi lên bờ, chúng tôi được các bạn Địa phương quân hướng dẫn di dạo một vòng quanh hòn đảo này.

Sau đó, từng toán nhỏ tấp vào các quán nước ở chợ để được ngắm nhìn các cô chủ quán xinh xinh và thưởng thức các món ăn hải sản nơi đây như tôm hùm, cua rang muối, cá hấp, mực... cùng với các ly rượu đế pha với nước dừa ngọt lịm. Mọi người sau những ngày gian khổ, tạm gác nỗi lo âu trong lòng để hưởng một buổi chiều tuyệt đẹp và cảm thấy đời mình còn đáng sống. Đến tối chúng tôi trở về chiến hạm và nhổ neo đi tuần duyên quanh đảo.Sáng hôm sau về neo lại bến cũ, phân đội khác được lên đảo chơi, tình hình an ninh trên đảo vẫn khả quan.

Trưa hôm đó, tuần duyên hạm HQ.608 từ Vũng Tàu ra chuyển giao tiền lương tháng 4/1975 cho chiến hạm tôi theo chỉ thị của tướng Vũ Đình Đào, vốn dành sẵn thiện cảm ưu ái rất nhiều cho hạm trưởng tôi. Trong ngày hôm đó, tàu tôi đã trao đổi với các viên chức địa phương vài thùng dầu để lấy một con heo. Buổi chiều hôm đó, thủy thủ đoàn đã được nhà bếp thết đãi một bữa tiệc nho nhỏ với món heo quay thật ngon lành. Trong khi ở đất liền tin tức chiến sự mỗi ngày càng bi đát hơn thì chúng tôi được hưởng mấy ngày công tác nhàn hạ hiếm hoi này.

Nhưng đến 4 giờ sáng hôm sau 27-04-1975, chiến hạm tôi cùng với HQ.712 đang tuần tiễu quanh đảo, bỗng mất liên lạc truyền tin đầu giờ với các đơn vị bộ binh trong bờ. Sĩ quan đương phiên vội báo cáo sự việc cho hạm trưởng biết. Khoảng 5 giờ 30 sáng, HQ.712 đang cách tàu tôi 7 hải lý, báo cáo có một chiến hạm Bắc Việt đang xâm nhập đổ quân lên đảo. HQ.712 tiến đến gần để nhận diện rõ hơn, bất ngờ bị chúng tác xạ bằng súng thượng liên. HQ.712 bị trúng 4 viên đạn thượng liên nhưng may mắn vô sự, liền phản công tác xạ lại.

Nhận thấy biến cố quan trọng, hạm trưởng cho nhận còi nhiệm sở tác chiến. Lúc đó, tôi đang nằm ngủ say sưa dưới phòng vì vừa mãn phiên trực, nghe tiếng còi tác chiến dồn dập vang lên. Tuy ngỡ ngàng, nhưng với phản ứng quen thuộc của người lính chiến, tôi vội nhảy xuống giường, chụp cái áo vội mặc vào người, xỏ chân vào đôi dép và vừa chạy vừa cài khuy áo tiến về đài chỉ huy. Chỉ trong khoảnh khắc thủy thủ đoàn đều có mặt tại nhiệm sở, các khẩu đại bác đang nạp đạn và lên đạn lách cách, báo cáo cho đài chỉ huy biết: tất cả sẳn sàng.

Khi ấy trời vừa tờ mờ sáng, chiến hạm đang tăng máy tiến về tàu địch để dễ dàng tác xạ. Nhưng màn ảnh radar báo cho biết khoảng cách còn xa 11.000 yards (10 km). Tàu địch biết gặp nguy nên tăng tốc độ chạy trốn. Chiến hạm tôi vì chỉ chạy được hai máy tiến hai nên sợ hụt con mồi, ra lệnh cho chiếc HQ.712 chạy tránh xa và khẩu 76,2 trước mũi bắt đầu khai hỏa. Từng phát đạn nổ vang trong buổi bình minh, rung chuyển cả thân tàu, chúng tôi hồi hộp theo dõi quả đạn đi bằng ống nhòm để chờ kết quả. Nhưng trái đạn không đến mục tiêu, rớt phía sau tàu địch gây ra những cột nước trắng xóa.Dù được điều chỉnh nhiều lần nhưng kết quả không như ý muốn. Cuối cùng tàu địch mỗi lúc một xa dần và khuất dạng về hướng Đông Bắc.

Vừa lúc đó, bất ngờ trên bầu trời xuất hiện 3 chiếc khu trục cơ cánh quạt AD.6 của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ gầm thét lượn vòng trên đầu chúng tôi. Chiến hạm liền đổi sang nhiệm sở phòng không. Trên boong tàu, các khẩu đại bác, đại liên đều chĩa nòng lên trời, đề phòng bạn đồng minh phản bội. Tình trạng căng thẳng suốt nửa tiếng đồng hồ, mãi đến khi tàu địch chạy khuất hẳn, ba chiếc phi cơ kia mới bay đi mất hút. Chiến hạm tôi cố gắng liên lạc nhiều lần với các đơn vị bộ binh trên đảo nhưng bặt vô âm tín.

Tàu tôi và HQ.712 thả trôi cách bờ 1 hải lý, trước mặt trụ sở Ủy Ban Hành Chánh Xã để chờ phối kiểm tin tức. Khoảng 9 giờ sáng Cộng quân xử dụng bích kích pháo 81 ly đặt trước sân trụ sở xã, pháo ra chiến hạm tôi. Nhưng tầm pháo không đến tàu, nổ cách tàu khoảng 500m. Chiến hạm vờ chạy trốn ra khơi, bất thần quay lại và khẩu 76.2 trước mũi thanh toán mục tiêu thật gọn. Khẩu pháo 81 ly bị trúng đạn nổ tung, trụ sở xã bị sập, vài tên Cộng sản sống sót lom khom chạy trốn sang nhà dân gần đó.

Khoảng 10 giờ sáng, một ghe nhỏ chở một người lính duy nhất chạy thoát ra biển, tắp gần đến chiến hạm và xin phép cho cặp. Khi chiến hạm cho phép cặp vào, đó là một hạ sĩ quan truyèn tin của đảo này trên vai có đeo một máy truyền tin PRC.25. Anh ta báo cáo cho chúng tôi biết các toán Cộng quân xâm nhập đảo cùng với các toán Cộng sản nằm vùng nổi dậy chiếm đảo từ lúc 4 giờ sáng. Chúng đã bắt giữ tất cả sĩ quan Phân Chi Khu Trưởng. Riêng viên xã trưởng may mắn thoát nạn vì đã quá giang HQ.608 về Vũng Tàu nhận chỉ thị từ đêm hôm qua.

Hạm Trưởng báo cáo về Sài Gòn cho biết tình hình đột biến và xin quân tiếp viện ra đổ bộ tái chiếm hòn đảo này. Trong lúc chờ lệnh, chúng tôi phát giác xuất hiện rất nhiều ghe nhỏ từ bờ chạy ra đầy trên mặt biển, vây kín hai chiến hạm vào giữa. Quan sát kỹ bằng ống nhòm, chúng tôi nhận thấy thuyền nào cũng có hai người đàn ông vóc dáng lực lưỡng, không có vẻ gì là đồng bào di tản cả. Hạm Phó thúc hối Hạm Trưởng cho lệnh tác xạ. Hạm Trưởng ban lệnh đồng tác xạ, các khẩu súng nổ vang. Chiến hạm tôi và HQ.712 vừa chạy, vừa bắn khiến chúng lớp bị chìm, lớp khác chạy trối chết vào bờ.

Đến 2 giờ chiều 27-04-1975, Sài Gòn chỉ thị hai chiến hạm rời bỏ đảo Phú Quý và trở về Vũng Tàu ngay vì ở đó đang bị Việt Cộng bao vây và pháo kích dồn dập. Thế là chiến hạm đành trực chỉ về hướng Tây, bỏ lại sau lưng một hòn đảo vừa lọt vào tay giặc, cấp tốc trở về Vũng Tàu với trận chiến nhiều tàn khốc đang chờ đón chúng tôi. Trên đường đi, HQ.11 vẫn bị một chiến hạm Mỹ chạy song song ngoài xa bám sát chúng tôi. Đến 3 giờ sáng
28-04-1975, tàu tôi đã nhìn thấy ánh đèn chớp tắt của ngọn hải đăng Vũng Tàu thì trên mặt biển đầy những thương thuyền to lớn của Mỹ đang neo, cùng nhiều chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội đầy trên mặt biển, ánh đèn chiếu sáng rực như một thành phố trên biển.

Khi còn cách xa Vũng Tàu, HQ.11 đã nhận lệnh yểm trợ hải pháo của Trung Tâm Hành Quân Vùng 3 Duyên Hải vì Cộng quân đã tiến chiếm tới cửa ngõ Vũng Tàu. Chúng tôi nhận lệnh mà chưa thể thi hành vì còn ở mãi ngoài khơi. Khoảng 7 giờ sang, tàu tôi đã đến gần Vũng Tàu, thấp thoáng sau lớp sương mờ, tôi thấy có nhiều tuần dương hạm, hộ tống hạm đang hải pháo vào phía Bắc thị xã Vũng Tàu giống như thị xã Qui Nhơn 4 tuần về trước.

Trên mặt biển có HQ.802, HQ.505. HQ.12, HQ.07, HQ.400, HQ.17, HQ.5... đang bận rộn liên tục với các tàu nhỏ, ghe thuyền đưa người di tản chạy ra. Trên bầu trời, các trực thăng đang nhộn nhịp bay lượn đưa từng đợt người di tản ra các chiến hạm Hoa Kỳ. Đúng 9 giờ sáng, chiến hạm tôi từ từ vào cảng và thả neo tại đây. Được lệnh về thẳng Sài Gòn nhưng ai cũng ái ngại vì thấy Vũng Tàu sắp lọt vào tay Cộng quân, về Sài Gòn có khác chi chui đầu vô rọ. Hạm trưởng đã lộ nét tuyệt vọng than thở với nhân viên: “Việt Cộng mà bắt được tao thì chắc chắn đầu một nơi, gan ruột một nơi mất”, tìm cách nấn ná để theo dõi tình thế và chờ thủy triều lên. HQ.712 được trao trả V3ZH và chở người di tản.

Vũng Tàu bị pháo liên tục không dứt, tướng Vũ Đình Đào ban lệnh di tản và các chiến hạm được phép “vận chuyển tự do”. Thị xã Vũng Tàu lúc ấy cực kỳ hỗn loạn, tràn ngập các quân dân từ miền Trung di tản vào, cùng với nhiều người từ Sài Gòn chạy ra để tìm đường lánh nạn Cộng sản. Trong lúc rối loạn này, bất ngờ có một chiếc LCM.6 cặp vào chiến hạm, chở theo một số nhân viên đi dự tang lễ Thượng sĩ Bàng trở về tàu. Các nhân viên này cho biết, quốc lộ 15 từ Sài Gòn ra Vũng Tàu đã bị gián đoạn, Sài Gòn đã bị pháo kích và miền Tây cũng bị cắt đứt tại Bến Lức, Long An.

Trưa hôm đó, Vũng Tàu bị pháo kích dồn dập, gây ra nhiều đám cháy và thiệt hại nặng nề. Thị xã như đang lên cơn sốt tột độ với từng đợt trực thăng, chiến đỉnh, thuyền bè hối hả đưa người di tản ra biển. Mọi người nặng trĩu ưu tư, lo lắng cho gia đình bị kẹt lại nên đề nghị với hạm trưởng cứ đưa tàu về Sài Gòn. Chiến hạm nhổ neo và tiến vào sông Lòng Tào, bên hữu hạm là Vũng Tàu ngập chìm trong vùng lửa đạn. Chiến hạm trong nhiệm sở tác chiến , xuôi theo con nước lớn chạy vào trong sông, ngược chiều với các tàu chiến, thuyền ghe đang vội vã hướng ra biển đào thoát.

Khoảng 4 giờ rưỡi chiều, chiến hạm về tới Nhà Bè, có chiếc Dương Vận Hạm HQ.800 đang thả neo. Hạm phó cho nhân viên dùng cơm chiều sớm hơn thường lệ để luân phiên ứng trực nhiệm sở tác chiến. Khoảng 5 giờ chiều, tôi lên đài chỉ huy để thay thế người khác đi ăn cơm thì trời bất ngờ đổ xuống một cơn mưa đầu mùa thật lớn. Trên boong tàu, nhiều nhân viên vẫn đội mưa ngồi trong các ổ súng, ướt loi ngoi. Bấy giờ đài phát thanh Sài Gòn đang trực tiếp truyền thanh buổi lễ trao quyền Tổng Thống giữa cụ Trần Văn Hương cho Đại Tướng Dương Văn Minh.

Tôi nhớ lời xướng ngôn viên đã ví von quang cảnh buổi lễ trao quyền này:” Đại Tướng Dương Văn Minh đã can đảm đứng lên nhận lãnh trọng trách lịch sử này trong giờ phút đen tối của đất nước, giống như bầu trời thủ đô đang bị các đám mây đen phủ kín báo hiệu một trận mưa to sắp đến...” Chẳng biết sau cơn mưa trời lại sáng hay không? Chỉ nghe thấytrong buổi lễ đó chỉ còn lèo tèo mấy giới chức cao cấp Việt Nam như Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo, Trung Tướng Vĩnh Lộc, Trung Tướng Trần Văn Minh Tư Lệnh Không Quân, Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang Tư Lệnh Hải Quân. Còn các vị khác quan trọng hơn đã cao chạy xa bay tự bao giờ, không nghe nhắc đến. Rồi với giọng nói đều đều của Dương Văn Minh cất lên đọc bài diễn văn nhậm chức nghe thật buồn nản.

Trong chỉ thị cho quân sĩ QLVNCH, tôi vẫn còn nhớ mãi câu nói của ông ta:”Tôi có đôi lời đến với các anh em trong QLVNCH. Tất cả phải ở nguyên vị trí chiến đấu. Không bỏ ngũ, không buông súng, mọi hành vi vô kỷ luật sẽ bị nghiêm trị”. Chiến hạm vẫn lầm lũi đi trong mưa tiến vào Sài Gòn, chúng tôi vừa lái tàu vừa lắng nghe radio. Khi trời vừa tạnh mưa thì buổi lễ vừa chấm dứt. Tàu giảm tốc độ để vào bến, con tàu xuôi theo con nước lớn nên vẫn lướt nhanh qua bến cảng Khánh Hội. Các khẩu súng vẫn đề phòng bất trắc, nòng hướng vào bờ.

Khi tàu chạy ngang khách sạn Majestic, chúng tôi nhìn thấy sân thượng sập một góc vì trúng đạn pháo kích mấy ngày trước. Hạm trưởng cho giải tán nhiệm sở tác chiến chuyển sang nhiệm sở vận chuyển và dàn chào khi tiến vào bến Bạch Đằng.

Chiến hạm vẫn giữ đúng nghi lễ, thổi còi chào Bộ Tư Lệnh Hải Quân cùng các chiến hạm bạn đang cặp bến. HQ.11 vẫn chưa được chỉ định vị trí cặp cầu dù đã gọi máy nhắc nhở nhiều lần cũng không xong, đành thả neo giữa sông Sài Gòn trước mặt Ty Quân cảng đúng vào lúc 6 giờ chiều 28-04-1975.

Vừa lúc đó, chúng tôi nghe tiếng bom đạn nổ rền từ hướng Tân sơn Nhất. Ai nấy đều ngơ ngác, máy truyền tin nhốn nháo cả lên. Bất ngờ, ba chiếc A.37 xuất hiện gầm thét trên bầu trời thủ đô, mọi người ngỡ rằng phe tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh nên chưa có phản ứng. Mãi 3 phút sau, các chiến hạm mới nhận được lệnh khẩn cấp:”F.5 không được bắn, A.37 tác xạ tự do”.

Bấy giờ chúng tôi mới biết 3 chiếc A.37 là địch và chúng đang bay vòng trở lại, có ý nhào xuống chúng tôi. Các khẩu đại bác trên tất cả chiến hạm đều đồng loạt nổ dòn, bắn tới tấp vào các phi cơ đó, đạn nổ đan kín bầu trời. Chiến hạm tôi nhờ lợi thế đang neo giữa sông nên các khẩu súng đều tác xạ được cả, đạn nổ điếc tai. Đứng trên đài chỉ huy quan sát cảnh bắn máy bay, tiện tay tôi cũng chụp khẩu đại liên 30 bên tả hạm chĩa nòng lên trời và bóp còi say sưa.

Vì hỏa lực hùng hậu của Hải Quân cùng với các khẩu phòng không trên dinh Độc Lập nên 3 chiếc phi cơ địch không dám nhào xuống thả bom và bay khuất dạng về hướng Đông Bắc. Trong khi đạn nổ rền trời, một số đồng bào đang cưỡi Honda bên Thủ Thiêm dọc bờ sông, hoảng hốt bỏ xe nằm mọp xuống lề đường tránh đạn, bánh xe vẫn còn quay tít. Cũng trong lúc ấy, một chiếc vận tải cơ C.130 vừa cất cánh lên, vô tình lạc vào lưới đạn phòng không. Phi cơ bị trúng đạn, lảo đảo chơi vơi trên bầu trời nhưng rất may không rớt, cuối cùng đành hạ cánh khẩn cấp không di tản được. Sau khi 3 chiếc A.37 tẩu thoát, hai phi tuần F.5 gồm 4 chiếc bay lên săn đuổi.

Hạm Đội ra lệnh tất cả các chiến hạm ngưng tác xạ và cho phép chiến hạm tôi vào cặp cầu L trước mặt Bộ Tư Lệnh Hạm Đội. Cầu tàu này đang có 4 chiếc Dương Vận Hạm đang cặp. Đó là HQ.502 vị trí 1 nằm ở trong cùng, kế đến HQ.501, rồi đến HQ.503 (bị pháo ngoài Cà Ná) và HQ.504. Chiến hạm tôi cặp phía ngoài cùng cạnh HQ.504, vị trí 5.

Sau hơn một tháng công tác ngoài biển khơi, chiến hạm tôi nay trở về bến cũ với bầu không khí chiến tranh đang bao trùm thủ đô, dân chúng thủ đô đang sống trong cảnh hãi hùng như màn đêm đen tối đang phủ trùm xuống Sài Gòn vì bị cúp điện mãi đến hơn 9 giờ tối. Chỉ duy nhất doanh trại Hải Quân tại bến Bạch Đằng nhờ có máy đèn riêng nên có đèn điện sáng choang. Các đơn vị Hải Quân tại thủ đô đang trong tình trạng cấm quân 100%, canh phòng thật nghiêm ngặt, trong khi đó một số sĩ quan cao cấp đã và đang tìm đường đào tẩu.

Sáng ngày 29-04-1975, đài phát thanh loan di lời kêu gọi của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu yêu cầu Mỹ rút tất cả nhân viên về nước trong vòng 24 giờ. Trung Tướng Vĩnh Lộc được cử làm Tân Tổng Tham Mưu Trưởng từ tối qua, ban nhật lệnh yêu cầu quân sĩ giữ vững tay súng, chiến đấu đến cùng. Bầu trời thủ đô xuất hiện từng đoàn trực thăng bay vào để bốc người di tản ra biển. Trong khi đó, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 ở Biên Hòa đã thất thủ, từng đoàn quân xa đang nườm nượp chạy về Sài Gòn, đen kín cả cây cầu xa lộ Bình Lợi. Về hướng Tây Bắc, nghe tin Cộng quân đã tràn ngập SĐ.25BB, đang tiến vào cửa ngõ Sài gòn và giao tranh ác liệt đã xẩy ra từ Bà Quẹo về đến Ngã Tư Bảy Hiền.

Một chiếc phi cơ C.119 bay lên tham chiến, chúng tôi nhìn thấy bị bắn rơi và phi công tử trận. Riêng các chiến hạm tại bến Bạch Đằng đều đặt trong tình trạng sẳn sàng chờ lệnh mới. Tinh thần binh sĩ rất hoang mang và lo âu. Tư Lệnh Hải Quân , Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang vừa cách chức HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn Tư Lệnh Hạm Đội vì tiết lộ tin di tản quá sớm, thay thế bởi HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê. Các chiến hạm khiển dụng nhận lệnh sẳn sàng rời bến bất cứ lúc nào. Trên cầu tàu Hạm Đội, chúng tôi thấy HQ Trung Tá Nguyễn Văn Tánh Hạm Trưởng HQ.502 đang cùng với một số nhân viên đi trên chiếc xe Dodge chở các vật dụng hải hành xuống tàu, vì HQ.502 đang đại kỳ sửa chữa chưa xong.

Khoảng 2 giờ chiều, thủ đô đã lên cơn sốt di tản. Cộng quân đang pháo kích vào phi trường Tân sơn Nhất, giao tranh dữ dội giữa các đơn vị Biệt Cách Dù và Nhảy Dù với lực lượng Cộng quân tại vòng đai phi trường. Các hạm trưởng được lệnh lên họp khẩn. Ngoài cổng Hải Quân Công Xưởng, từng đoàn người đủ mọi thành phần quân cán chính và thân nhân đang ùn ùn kéo đến, cổng được mở ra cho họ tràn vào đổ xô về các cầu tàu có các chiến hạm đang cặp bến.

Riêng cầu tàu đi sang Ty Quân Cảng và cư xá Cửu Long vẫn khóa chặt gây nên cảnh hỗn loạn tắc nghẽn vì quá đông người không qua cầu được. Khoảng 4 giờ chiều, hạm trưởng đi họp về với nét mặt đầy căng thẳng, sau đó lên một xe Jeep cùng với vài nhân viên về đón gia đình. Thủy thủ đoàn đa số vẫn hiện diện trên tàu, lo âu nhưng bất lực vì không thể đón thân nhân xuống tàu trong lúc hỗn loạn được. Trong khi ấy tại cầu L, quân nhân và đồng bào đang tràn lên HQ.502. Lúc đó nước thủy triều dâng cao, hạm kiều bắc từ boong tàu dẫn xuống cầu thật dốc, đàn bà và trẻ em phải khó khăn lắm mới bước lên chiến hạm. Tiếng người chen lấn xô đẩy nhau, tiếng gọi ơi ới hoảng hốt vang lên khi chen lấn trèo lên tàu trong buổi hoàng hôn trốn chạy Cộng sản trông thật buồn thê thiết.

Khi màn đêm xuống, cầu tàu và 5 chiến hạm chìm ngập trong bóng tối hãi hùng vì tàu đã tháo dây điện bờ. HQ.502 đã đầy ắp người và vẫn còn nhiều người tiếp tục trèo lên. Riêng HQ.501 vì máy tàu đã bất khiển dụng và hạm trưởng là HQ Trung Tá Võ Duy Kỷ đã vắng mặt từ hơn một tuần lễ trước nên không nhận người di tản. Hạm Trưởng Kỷ sau đó đã đi tù cải tạo nhiều năm, cuối cùng được sang định cư tại
San Jose
.

Còn HQ.503 chỉ nhận một số ít người ra đi, vả lại chiến hạm đã bị hư hại nặng vì bị pháo tại Phan Rang trước đây. Đặc biệt HQ.504 máy móc còn rất tốt hạm trưởng và cơ khí trưởng nhất quyết không chịu ra đi, gây phẫn nộ cho thủy thủ đoàn. Cuối cùng ai muốn ra đi phải quá giang các chiến hạm khác. Hạm Trưởng HQ.504 Hải Quân Trung Tá Nguyễn Như Phú (khóa 16 Võ Bị) sau nhiều năm bị tù cải tạo, hiện nay đang sinh sống tại
California.
Dương Vận Hạm Qui Nhơn HQ.504
 
Chiến hạm tôi nhờ nằm phiá ngoài cùng, lại nhờ HQ.504 cản bước nên những người di tản không thể tràn qua tàu tôi được. Riêng có HQ Thiếu Úy Vũ Tiến Hưng (Khóa 25 SQHQ/Nha trang) may mắn tìm gặp thân nhân trong đám người di tản nên hướng dẫn đem xuống tàu tôi. Một số nhân viên và vài sĩ quan khác đã rời tàu tìm cách về nhà để lo liệu gia đình như Hạm Phó Trần Đức Huân, HQ Đại úy Vũ Đức Thiệu, HQ Trung Úy Huỳnh Thiện Khiêm... (Những sĩ quan này đều không thể đưa gia đình xuốmg tàu kịp trong cơn hỗn loạn nên bị kẹt lại). Hầu hết anh em còn lại trên chiến hạm đều kẹt gia đình nên mặt ai nấy nặng trĩu buồn lo. Hạm trưởng đến giờ này vẫn chưa về tàu được, trong khi hạm đội gọi máy thúc hối chiến hạm phải rời bến ngay kẻo trễ.

Khoảng 9 giờ rưỡi tối, hạm trưởng về đến chiến hạm bằng một tiễu đĩnh LCVP mượn bên Ty Quân Cảng cùng với gia quyến vì cổng gác cư xá Cửu Long vẫn khóa chặt. Sau đó, hạm trưởng cho lệnh tập họp thủy thủ đoàn cho biết chiến hạm phải rời bến ngay trong đêm, anh em được chọn lựa ngay bây giờ: ĐI hay Ở LẠI?

Cuối cùng thủy thủ đoàn có khoảng 80 người thì một nửa theo hạm trưởng ra đi trốn chạy Cộng sản, bỏ lại gia đình, họ hàng thân thuộc để một thân một mình sống kiếp tha hương lưu lạc nơi xứ người. Trong số chiến hữu này, có HQ Trung Úy Phạm Công Nhạc vì vừa mới cưới vợ nhà ở Cái Sắn, nên ngập ngừng mãi không biết tính sao, cuối cùng đành phải theo tàu ra đi.Sang đến đảo Guam, sống cuộc đời tha hương buồn thảm gần 6 tháng, anh đã quyết định theo con tàu Việt Nam Thương Tín trở về quê hương, để rồi bị Cộng sản cho đi cải tạo, đọa đầy trong tủi nhục.

Còn một nửa anh em khác chấp nhận sống chết với quê hương, tuy biết rằng sống chung với Cộng sản sẽ gặp nhiều khốn khổ nhưng mấy ai hiểu nhiều về con người Cộng sản ra sao?! Để rồi sau đó ngỡ ngàng khi bị Cộng sản cho đi cải tạo nơi rừng sâu núi thẳm. Trong số này có hạm phó của tôi, bị đưa đi tận miền Bắc xa xôi, để lại người vợ hiền phải tảo tần xuôi ngược nuôi nấng hai đứa con thơ và dành dụm thăm nuôi chồng trong lao tù CS. Sau này anh đã vượt biên cùng với gia đình định cư tại Úc năm 1984. Nhưng chỉ ba năm sau anh chẳng may mắc bệnh nan y và qua đời tháng 7/1987. Sau khi quyết định xong, anh em nào ở lại xuống chiếc giang đĩnh LCVP để chạy vào bờ, sĩ quan duy nhất chỉ có HQ Trung Úy Nguyễn Đắc Minh vì còn mẹ già và vị hôn thê nên không nỡ theo tàu di tản được.

Thủy thủ đoàn trong cảnh kẻ ở người đi đều ngậm ngùi bịn rịn, vẫy tay chào tiễn biệt nhau, không biết bao giờ mới gặp lại. HQ.11 tách bến ra đi vào khoảng 11 giờ rưỡi đêm 29-04-1975. Có lẽ trong đời tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh con tàu thân yêu đang từ từ tách bến, giã biệt Sài Gòn để ra đi trốn chạy làn sóng đỏ, để tôi đứng lặng nhìn theo đâu có ngờ đời mình sẽ nhiều khốn khổ khi lọt vào tay bọn Cộng sản bạo tàn.

Tôi lái chiếc LCVP rời chiến hạm, chúng tôi dự định lái sang bên kia bờ Thủ Thiêm để đưa các anh em lên bờ trở về với gia đình. Nhưng khi sắp cặp cầu, một số đông người trên bờ ùn ùn chạy xuống cầu, chúng tôi hoảng hốt lùi tàu lại chạy ra giữa sông và sau cùng đành cặp vào chiếc Tạm Trú Hạm ở cầu C cạnh trại Bạch Đằng 2 nghỉ đêm ở đó chờ sáng mai về nhà. Trên chiếc tàu này, tôi đã gặp nhiều chiến hữu của các đơn vị khác cùng ở lại, chúng tôi cùng thức thâu đêm tâm sự và lo lắng khi nghe tiếng đạn pháo kích nổ rền cùng chứng kiến vài chiến hạm rời bến muộn màng mà lòng buồn vời vợi.

Khoảng 9 giờ sáng
30-04-1975
, bến Bạch Đằng chỉ còn một ít chiến hạm ở lại, doanh trại Hải Quân trống trơn bỏ ngõ, lác đác vài người. Chúng tôi thay quân phục, mặc vào người bộ đồ dân sự đi ra cổng. Mặc trên người quần tây, áo sơ mi trắng tôi bước ra cổng Bộ Tư Lệnh Hải Quân với dáng dấp thư sinh như thưở nào còn đi học. Nhớ lại 6 năm về trước, tôi tình nguyện gia nhập Hải Quân với lòng đầy mơ ước khi đọc hai bảng hiệu treo trước phòng tuyển mộ như mời gọi chúng tôi: “Gia nhập Hải Quân là thực hiện mộng hải hồ”, “Chúng tôi đang chờ đón các bạn trong những chuyến viễn du”. Còn hôm nay, cũng bộ đồ thư sinh ấy, tôi đã giã biệt chiến hạm, giã biệt cuộc đời lính biển để trở về mái ấm gia đình. Tôi có ngờ đâu tôi khờ khạo quá, tôi đang đứng chênh vênh trên bờ vực thẳm, đâu biết tương lai đen tối đón chờ sẽ ập xuống đầu tôi:

Ôi biển cả giờ đây ta mới biết
Mộng hải hồ giết chết một đời trai.

Đến 10.25 sáng 30-04-1975, sau khi Dương Văn Minh ra lệnh quân đội buông súng, giao nộp miền Nam cho Cộng sản từ đây. Tôi lặng lẽ đi bộ về nhà ở Ngã Tư Bảy Hiền. Tôi đã chứng kiến nhiều cảnh đổi đời dâu bể mà thấy lòng mình đau như cắt.Chân tôi bước trên con đường Lê Văn Duyệt ngổn ngang quân phục, giầy vớ, súng đạn mà các chiến hữu tôi vừa cởi bỏ, chỉ mặc trên người quần đùi, áo thung thảm não bước đi như chạy trốn.

Tôi đã nhìn thấy từng toán Cộng quân với gương mặt ngơ ngáo đang tiến vào thủ đô; được dẫn đầu bởi các sư sãi mặc cà sa cầm biểu ngữ, miệng hò hét, lúc hoan hô “cách mạng thành công” xem giống như những tên thầy pháp đang múa may, quay cuồng giữa lũ âm binh, thật tởm! Tôi đã nhìn thấy nhiều đồng bào đón gió đeo băng xanh đỏ; thấy những tên nằm vùng mang súng hớn hở đón chào lũ Cộng. Tôi đã nhìn thấy nhiều chiến hữu Nhảy Dù hy sinh trong trận đánh cản bước địch quân tiến chiếm thủ đô tại khu hồ tắm Cộng Hòa và cư xá Tự Do, xác được bó gọn trong tấm poncho, bên cạnh có bà mẹ già ngồi lặng lẽ khóc con. Và còn nhiều, nhiều nữa... Tôi cúi mặt, tủi nhục bước đi, tôi chợt nhìn thấy một bảng hiệu tuyên truyền có 4 câu thơ lục bát của chính quyền quốc gia treo trên cột đèn đã bị vứt bỏ, đến nay tôi còn nhớ mãi:

Có đâu rắn đẻ ra rồng?
“Mặt Trận Giải Phóng” cũng dòng Cộng nô
Cũng loài bè lũ tam vô
Cũng phường bán nước, cũng đồ Việt gian.