Sunday, April 8, 2012

Tội ác của Kissinger làm tan tành VNCH

Kissinger đã gây tội lỗi vô cùng

Hà Xuân Thụ

Để giải quyết chiến tranh Việt Nam Kissinger đã dâng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho Trung Quốc. Với viễn tượng được làm bá chủ và tóm gọn Biển Đông có trữ lượng dầu hỏa khổng lồ nên Trung Quốc đã vồ ngay cơ hội hiếm có này:

1.- Trung Cộng ngang nhiên xâm chiếm Hoàng Sa ngay trước mặt hạm đội 7 Hải Quân Hoa Kỳ. Kissinger đã công khai ra lệnh cho Hải Quân Mỹ hoàn toàn không được giúp các chiến hạm Hải Quân VNCH, không trợ giúp các toán Biệt Hải đổ bộ lên các đảo ở Hoàng Sa do HQ Đại Úy Hồ Xuân Tành chỉ huy.

Các chiến hạm Mỹ cũng không được trợ giúp VNCH cả đến việc nhân đạo cứu vớt người khi HQ10 chìm. 70 người đã chết cùng với Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà. Từ đó những chuyện thật bi hùng đầy ngưỡng mộ đã xẩy đến với các chiến sĩ Hải Quân anh hùng QLVNCH này:

Sau khi chiến đấu với Trung Cộng xong lại phải cật lực tranh đấu với biển cả bạo tàn. Các thủy thủ này phải lềnh bềnh, tát chèo tuyệt vọng nương theo gió mùa Đông Bắc của tháng Giêng 1974. Mãi hơn 10 ngày mới trôi dạt đến gần Qui Nhơn. HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí, Hạm Phó HQ10 cùng nhiều thủy thủ khác đã hy sinh phải thủy táng trong cơn đại nạn này...

2.- Đọc bài tường trình Bí Ẩn Trận Hoàng Sa ở dưới. Chúng ta thấy rất lạ: Thông thường tù nhân phải chịu giam giữ khổ sở bỏ đói lâu dài như tù nhân Mỹ bị chặt đầu trong chiến tranh Iraq, như Việt Cộng đã giết hại bỏ đói tù cải tạo, như Nhật Bản đã hành hạ tù binh Mỹ trong phim cầu sông Kwai v.v.. Ở đây Trung Cộng lại đối xử với Thiếu Tá Hồng và cố vấn Kosh như thượng khách: giam riêng một phòng một người. Sĩ quan được ăn riêng và còn nữa:

3.- Khi di chuyển từ Hải Nam về Quảng Châu: Sĩ Quan được di chuyển bằng máy bay, Kosh được mời vào cabin để ngồi. HSQ và binh sĩ di chuyển đến Quảng Châu bằng tàu thủy.


4.- Mới bị giam 3 hoặc 4 ngày Kissinger đã đến Bắc Kinh và chỉ một tuần lễ sau Kosh được thả ngay.

5.- Trong thời gian ở tù Thiếu Tá Hồng và thuộc cấp lại được đi tham quan bệnh viện, hợp tác xã, các nhà máy sản xuất vũ khí và xe đạp.


6.- Chỉ một tháng sau Thiếu Tá Hồng và thuộc cấp bị giam giữ đã trở về Sài Gòn.

Qua những bằng chứng đó, chúng ta tự hỏi tù kiểu gì lạ vậy !!! Khi Mao Trạch Đông đã làm chết hơn 50 triệu dân của mình mà lại đối xử với Kosh và tù binh VNCH như thượng khách à ?

Không còn gì để che dấu được nữa. Kissinger đã dâng đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng vì hai nguyên nhân: Thứ nhất chấm dứt chiến tranh Việt Nam và thứ hai cắt bỏ viện trợ VNCH để Mỹ chỉ giúp đỡ cho quốc gia cội nguồn của Kissinger là Do Thái mà thôi.

Kissinger đã gây ra tội lỗi vô cùng to lớn: Hoàng Sa của VN bị Trung Cộng chiếm giựt. Nước VNCH tan tành, cả triệu người dân Việt Nam đã chết sau hiệp định Paris 1973 vì chiến tranh xâm chiếm VNCH, vì tù cải tạo và thuyền nhân vượt biên.


Bí ẩn trận Hoàng Sa

Nguồn Viễn Đông- Thiếu tá Phạm Văn Hồng

WESTMINSTER – Để chuẩn bị cho việc tổ chức Ngày Tưởng Niệm Hoàng Sa, Hội Hải Quân Cửu Long đã tổ chức bữa cơm thân mật với các Đoàn thể và báo giới vào trưa ngày Chủ nhật 13-12-2009 vừa qua tại Paracel Seafood Restaurant.

Trong bữa cơm trưa này, được sự giới thiệu trước của Thiếu tá Hồ Đắc Huân, chúng tôi gặp Thiếu tá Phạm Văn Hồng, Sĩ Quan Lãnh Thổ Phòng 3, Quân Đoàn I, người bị Trung cộng bắt làm tù binh trong trận hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân VNCH và Hải quân Trung Cộng vào ngày 19-1-1974.



Sau bữa cơm, Thiếu tá Phạm Văn Hồng đã kể cho Phóng viên Viễn Đông nghe câu chuyện của 35 năm về trước với nhiều tình tiết khá đặc biệt mà ông chưa hề phổ biến trên báo chí. Sau đây là câu chuyện chúng tôi:

Lệnh ra Hoàng Sa thiết lập phi trường:

Buổi sáng 15-1-1974 tôi nhận lệnh thượng cấp ra đảo Hoàng Sa để thiết lập một phi trường quân sự, lúc đó tôi là sĩ quan lãnh thổ Phòng 3 thuộc Quân Đoàn I nên việc thượng cấp giao cho là hợp lý.

Chiều hôm đó thay vì di chuyển bằng xe quân sự, thì nhân viên Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Đà Nẵng là ông Kosh lại lấy chiếc Falcon chở tôi cùng đi với ông qua bên Tiên Sa. Đến nơi vào khoảng 5, 6 giờ chiều, trời đã gần tối, chúng tôi lên chiếc HQ16 do Hải quân Trung tá Lê Văn Thự là Hạm trưởng.

HQ16 đưa chúng tôi ra tới đảo Hoàng Sa vào khoảng 9 giờ sáng hôm sau. Trời hừng sáng, tôi thức dậy và nhìn ra khơi, xa xa có mấy chiếc tàu nhỏ đang di chuyển, dần dần những chiếc tàu đó nhắm hướng HQ16 chạy tới, nó cứ chờn vờn trước mũi tàu mình và nói theo ngôn ngữ lúc bấy giờ gọi là “kỳ đà cản mũi”.

Hải quân Trung tá Lê Văn Thự lấy làm lạ và nói với tôi: “Hình như nó muốn khiêu khích mình”. Nó giả dạng tàu đánh cá, cho một vài tên mặc quần đùi, ở trần ra ngồi bên mạn thuyền thả câu, câu cá. Chúng tôi mặc kệ nó và ở đó vài tiếng sau thì đổ bộ lên bờ. Ngoài tôi làm toán trưởng, còn có một Trung úy Liên Đoàn 8 Công Binh Kiến Tạo, một Trung úy Liên Đoàn 10 Công Binh Chiến Đấu, hai Hạ sĩ quan đi theo hai Trung úy và ông Kosh, như vậy toán chúng tôi có tất cả 6 người đặt chân xuống đảo Hoàng Sa thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm ở về phía Nam của quần đảo Hoàng Sa.

Hai Trung úy lo đi thám sát địa hình, đo đạc để có dữ kiện thiết lập phi trường. Ở trên đảo có sẵn một toán Khí Tượng, nếu cần biết gì về thời tiết, Nhóm Khí Tượng sẵn sàng cung cấp đầy đủ. Ngoài Nhóm Khí Tượng còn có một đơn vị Địa Phương Quân trú đóng.

Biển Đông dậy sóng:

Sáng ngày 18-4-1974 từ trên đảo nhìn ra biển thấy tình hình khác hẳn mấy ngày trước. Tàu của Trung Cộng nhỏ nhưng khá nhiều, còn bên Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thấy có bốn chiếc HQ16, HQ4, HQ10 và HQ05.

Hai chiếc HQ05 và HQ16 là Tuần Dương Hạm; chiếc HQ04 là Khu Trục Hạm còn HQ10 là Hộ Tống Hạm. HQ04 nhỏ hơn nhưng hỏa lực mạnh hơn. Chiều ngày 18 tôi nhận được lệnh của Hải Quân Trung tá Lê Văn Thự nói sẽ cho dzu dzu (một loại xuồng cao su) đến đón chúng tôi lên HQ05 là Soái Hạm (tàu chỉ huy) vì có Hải Quân Đại tá Hà Văn Ngạc đang ở trên đó để tổng chỉ huy.

Tôi lên HQ05 và chờ đến khoảng 10 giờ thì loa phóng thanh nói: “Mời Thiếu tá Phạm Văn Hồng lên đài chỉ huy để gặp Hải đội trưởng”. Lên phòng chỉ huy, Đại tá Hà Văn Ngạc vỗ vai tôi và nói: “Toa à, cái thằng Kosh này là bạn moa, nó nhát gan, nó sợ và muốn lên đảo, nó bảo ở trên tàu nguy hiểm quá, vậy toa đi với nó lên đảo trở lại”. Rồi ông ra lệnh lấy dzu dzu đưa chúng tôi vào đảo. Cặp vào đảo thì đã khuya, anh em Địa Phương Quân họ cũng đã ngủ hết .

Suốt một đêm vật vã với sóng gió, tôi cũng mệt nhoài nên sáng hôm sau khi nghe có tiếng heo kêu tôi mới thức dậy thì trời đã sáng rõ. Sở dĩ có tiếng heo kêu là vì mấy anh em Địa Phương Quân khi nhận lệnh ra giữ đảo, biết nhiệm kỳ của mình sẽ ăn Tết trên đảo nên họ mang một con heo ra nuôi để Tết mổ thịt.

Khi vừa rửa mặt xong thì nghe mấy anh em Điạ Phương Quân nhao nhao nói: “Có lẽ không xong rồi Thiếu tá ơi!” Và tôi bắt đầu nghe tiếng súng nổ; lúc đó vào khoảng hơn 10 giờ sáng ngày 19-1-1974. Tôi leo lên sân thượng của Đài Khí Tượng nhìn ra biển thấy hai chiếc tàu Trung Cộng chưa chìm nhưng đang trong tư thế sắp chìm và tôi nghĩ chắc chắn sẽ chìm, còn bên phía Hải Quân mình tôi thấy các lằn đạn của tàu Hải quân Trung cộng cũng đang ghim vào chiến hạm của mình.

Hai bên đang thi nhau nã đạn. Tiếng súng lớn, súng nhỏ thi nhau nổ dòn dã. Tôi xuống phòng truyền tin, ở đây chỉ có mỗi chiếc máy C.25 để anh em liên lạc với tàu khi lên xuống thôi. Tôi nghe âm thoại viên của Hải Quân nói: “Thiếu tá Hồng, tôi đã mất liên lạc, nhờ Thiếu tá gọi ngay về Đà Nẵng giúp, nói là tàu tôi đã bị nghiêng 30 độ, mắt thần chúng tôi đã bị hư”. Đó là tất cả những gì tôi nghe được qua máy truyền tin C.25.

Tôi nhờ bên Đài Khí Tượng cho sử dụng máy Motorola, anh em bên Khí Tượng cho biết, họ chỉ lên máy mỗi đầu giờ, bây giờ đang là giữa giờ, lên máy không có tín hiệu nhận. Nhưng anh em bên Đài Khi tượng vẫn mở máy. May quá, có Phú Quốc lên máy. Tôi nhờ Phú Quốc gọi về Sài Gòn, yêu cầu Sài Gòn gọi ra Đà Nẵng nói Đà Nẵng “lên máy”. Nói thì nghe ngắn gọn như vậy nhưng lúc đó mất rất nhiều thời gian, không như bây giờ có cell phone, liên lạc với nửa vòng trái đất cũng chỉ trong tíc tắc!

Khi tôi liên lạc được với Đà Nẵng, tôi yêu cầu Đà Nẵng gọi “Uy Dũng” là tên Tổng đài Quân Đoàn I của chúng tôi, tôi cho số máy của Trung tâm hành quân và số máy của Quân Đoàn I, yêu cầu liên lạc ngay với tôi qua tổng đài của Ban Khí Tượng ngoài đảo Hoàng Sa. Lúc đó tiếng súng giữa các chiến hạm của ta và của Trung Cộng đã tạm lắng dịu nhưng súng bắt đầu nổ trên đảo.

Tôi lên Đài Khí Tượng quan sát thì thấy các chiến hạm của ta ở vòng ngoài, còn tàu Trung Cộng thì lại ở vòng trong, có nghĩa là chúng tôi đã bị tàu Trung Cộng bao vây. Những chiếc tàu của Trung Cộng theo anh em Hải quân ta cho biết là những chiếc Kronstad, tất cả đều quay mũi tàu của họ vào đảo Hoàng Sa, còn các chiến hạm của ta thì quay mũi ra phía ngoài biển. Các chiếc Kronstad tiến sát vào bờ và đổ quân, chúng dàn hàng ngang tiến lên đảo.

Lúc này trên đảo bên ta chỉ có một Trung đội Địa Phương Quân hơn 20 quân nhân, bốn năm anh em chuyên viên Khí Tượng và thêm toán chúng tôi 6 người nữa mà phải đương đầu với khoảng một tiểu đoàn Trung Cộng. Cũng cần biết thêm là theo anh em đi thám sát đo đạc để lập phi trường có cho biết, chu vi đảo chỉ chừng 1 cây số 6. Nếu thiết lập phi trường thì chỉ có thể làm phi đạo dài 500 thước, ngang 300 thước mà thôi, và phi đạo như thế chỉ sử dụng cho các loại phi cơ 123 Caribou chứ loại C.130 không thể hạ cánh được.

Cho nên với chu vi gần 2 cây số mà chỉ có khoảng 20 người, làm sao kiểm soát hết được, trong khi đó sở trường của Trung Cộng luôn luôn là “lấy thịt đè người”. Với quân số ít oi và vũ khí cũng không có gì mạnh mẽ lắm, mỗi người chỉ có vài gắp đạn nên bắn mấy lần là hết đạn. Tuy nhiên anh em vẫn chiến đấu với biển người Trung Cộng.

Mưu mô của Trung Cộng:

Để nắm vững tình hình trên đảo Hoàng Sa về quân số cũng như cách bố phòng của ta, vào khoảng đầu tháng 10 năm 1973, thời điểm tháng 10 thường hay có mưa bão xảy ra ở vùng biển Đà Nẵng, nên Trung cộng cho một chiếc tàu giả dạng tàu đánh cá vào đảo xin tránh bão.

Việt Nam Cộng Hòa mình vốn có tính nhân đạo và thật thà, thấy họ xin núp bão thì đồng ý ngay, lại còn tiếp tế cho họ nước uống nữa, chúng làm bộ thân thiện với ta, tặng cho anh em quân nhân những bộ bài có hình khỏa thân, và rủ lính của ta chơi trò “trốn tìm”, mục đích là dò xem mình có hầm hố gì không, nhưng các anh em Điạ Phương Quân của ta đâu có ngờ, đó là mưu mô “thám sát” của lính Tàu.

Vì thế khi chúng tấn công lên đảo, chúng đã nắm rõ quân số của ta có bao nhiêu người, vũ khí ra sao, có hầm hố chiến đấu hay không, còn ta, ta không biết gì về địch. Lực lượng hai bên quá chênh lệch như thế nên chúng ta bị thất bại là lẽ đương nhiên.

Tin vào lời hứa, tìm cách ẩn trốn và bị bắt:

Khi tôi liên lạc bằng máy Motorola của Đài Khí Tượng trên đảo về Đà Nẵng, tôi được bên Hải Quân cho biết, Thiếu tá Hồng cứ yên trí, sẽ có máy bay ra yểm trợ. Vì tin lời hứa đó, tôi nghĩ trong lòng rằng không bao giờ tôi đầu hàng, giả sử nếu cùng lắm bên Không quân ta phải thả bom trên đầu, tôi cũng chịu vì đó là chuyện bình thường của quân đội.

Vì tôi và anh em trên đảo sẽ được cứu nên tôi tìm cách ẩn trốn vào một bụi cây rậm rạp trên đảo, do đó khi chúng đã bắt hết các anh em, chúng kiểm soát danh sách và biết rằng còn thiếu một viên Thiếu tá là tôi, cả một Tiểu đoàn lính Trung Cộng dàn hàng ngang lùng sục làm sao mà tôi thoát được, và tôi bị chúng bắt sống lúc xế trưa.

Cuộc đời tù binh:

Sau khi Trung Cộng bắt được tôi, chúng không đánh đập nhưng có dọa nạt và áp đảo tinh thần. Khoảng 2, 3 giờ chiều chúng cho chúng tôi ăn cơm, ăn với thịt heo của anh em Địa Phương Quân nuôi, như tôi đã trình bày ở phần trước, nói là thịt heo nhưng thật sự chỉ có mỡ thôi, còn nạc bọn lính Trung Cộng ăn hết rồi. Ăn xong nó nhốt chúng tôi trong căn nhà có lẽ trước đây dùng chứa phân chim hay làm cái gì đó tôi không biết rõ.

Đến khuya chúng nó bắt tất cả anh em ra xếp một hàng dọc ngoài sân. Tôi nghĩ trong đầu chắc chúng đem đi xử bắn. Một vài anh em trong bọn tôi có vẻ lo lắng, thấy thế tôi mới trấn an: “Các anh cứ bình tĩnh, dù chúng ta có chết cũng chết cho tổ quốc, đừng sợ, cứ bình tĩnh và giữ khí phách của một người lính VNCH”. Nhưng cuối cùng chúng không bắn ai hết !

Di chuyển qua Trung Quốc

Gần rạng sáng chúng cho chúng tôi lên tàu, tôi nghe ngoài biển có nhiều tiếng lào xào, nhìn ra thì thấy nhiều chiếc dzu dzu đang chèo vô bờ. Nó chuyển chúng tôi cứ 4, 5 người xuống một xuồng cao su (dzu dzu) và đưa ra tàu Kronstad. Nhóm sĩ quan nó đưa riêng lên một tàu, mấy chục anh em Hạ sĩ quan, binh sĩ lên các tàu khác và tàu bắt đầu di chuyển.

Khoảng trưa hôm sau, tức là trưa 20-1-1974, chúng tôi tới đảo Hải Nam. Nó cho tôi lên bờ trước, sau đó mới đưa các anh em còn lại lên, rồi nó đưa đám sĩ quan vào phòng ăn riêng gồm tôi và 1 Trung úy Hải Quân, 1 sĩ quan Địa Phương Quân, 2 sĩ quan Công Binh và anh Kosh, cả thảy là 6 người.

Sau khi ăn cơm xong, chúng đưa chúng tôi ra phi trường để bay về Quảng Châu. Khi lên máy bay chúng đưa tên Kosh lên ngồi trên cabin, còn anh em chúng tôi ngồi ở khoang dưới. Đến Quảng Châu trời đã tối. Riêng nhóm Hạ sĩ quan, binh sĩ và nhân viên đài Khí tượng chúng nhập chung thành một toán cho xuống tàu lớn chở về sông Châu Giang cũng thuộc thành phố Quảng Châu.

Hôm sau tất cả đám tù binh gồm 49 người, tính luôn cả anh Kosh người Mỹ; trong đó có 23 chiến sĩ Địa Phương Quân, 6 người toán chúng tôi, 5 nhân viên Khí tượng và 14 quân nhân Hải quân, có thêm một sĩ quan nữa là HQ. Trung úy Nguyễn Văn Dũng.

Tôi bị gọi lên lấy khẩu cung nhiều lần, chúng cố tình khai thác tôi về tổ chức quân đội VNCH, nhưng tôi viện lý do “bí mật quân sự”, phòng nào biết phòng đó, tôi chỉ nói một cách tổng quát và cứ lập đi lập lại rằng, bên quân đội chúng tôi bảo mật rất kỹ, tôi chỉ biết danh số có những phòng gì, còn mỗi phòng có những ai, làm việc gì, điều đó tôi không biết. Tôi thấy nó chú tâm vào anh Hải quân Trung úy nhiều hơn tôi, có lẽ muốn điều tra, khai thác kỹ về Hải quân của ta để dự phòng những trận hải chiến sau này có thể xảy ra.

Sau khi bị giam một tuần lễ, chúng lựa ra mỗi toán một người để thả. Người đầu tiên là anh Kosh, chúng cho biết anh này bị một bệnh mà họ gọi nguyên văn là “mãn tính kinh niên” nên cho về sớm, bên Khí Tượng thả một người, bên Địa Phương Quân thả một người, bên Hải quân thả một anh bị thương nhẹ.

Vai trò của ông Kosh trong âm mưu của Mỹ

Lần xuống đảo trước, tôi và anh Kosh này ngồi bên nhau, anh ta kể, anh là Trung úy Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh, anh làm cho Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ. Lần này anh đi với tôi trong vai trò giám định để xem thực hiện phi trường tốn phí ra sao và đề nghị Tòa Tổng Sự chi trả. Trên nguyên tắc thì như vậy, nhưng thực tế đây chỉ là phi trường ảo mà thôi, không có thật, anh ta đi với chúng tôi trong một sứ mạng đặc biệt đã được Hoa Kỳ và Trung cộng bí mật dàn dựng từ trước.

Sứ mạng đó là dùng chúng tôi làm con cờ thí, làm vật tế thần cho Trung cộng có cớ xâm lăng Hoàng Sa. Đây là điều bí mật từ trước tới nay chưa có báo chí nào loan tải. Chúng ta hãy xem thái độ và cách hành xử của anh Kosh này cũng như sự đối xử của nhà cầm quyền Trung cộng thì sẽ rõ.

Trên giấy tờ, anh này đi công tác với chúng tôi chỉ có vài ngày, nhưng khi anh mở cái sắc của anh ra, trong đó có đến hai cây thuốc lá. Nếu tính thời gian công tác, anh hút nhiều lắm cũng chỉ 5, 6 gói thuốc, vậy anh mang tới 20 gói thuốc để làm gì ? Ngoài thuốc lá, trong sắc tay của anh có đầy đủ dụng cụ mưu sinh thoát hiểm như lưỡi câu, thuốc chống cá mập.

Sau khi bị bắt, trong buổi chiều ngồi cạnh tôi trên đảo, anh mở một hộp cá ra ăn, anh mời tôi một lát cá. Tôi để ý thấy hộp cá nhỏ và mỏng hơn hộp cá mòi Sumaco của Marốc, anh đưa cho tôi một lát mỏng như miếng khô mực đã bị ép rất sát, anh nói với tôi: “Anh ăn đi, no đấy!” Tôi nghĩ anh chàng này đùa dai, miếng cá mỏng dính và nhỏ xíu thế này làm sao no. Vậy mà khi ăn xong, tuy không no thiệt nhưng mà ngang dạ liền.

Tiếp theo là sự kiện anh đang ở trên HQ16 lại đòi lên bờ và bảo ở dưới tàu nguy hiểm quá, mà lúc đó trận hải chiến chưa xảy ra. Phải chăng anh đã biết trước sẽ có hải chiến và ở trên tàu khi đánh nhau thì nguy hiểm thật, nên lên đảo để quân Trung Cộng làm bộ bắt cho chắc ăn hơn, và chúng ta thấy, người đầu tiên Trung Cộng thả là anh chàng Kosh này.

Nói đến đây, tôi cũng xin mở dấu ngoặc là bây giờ biết anh chàng này đóng vai trò gì trong kế hoạch của Mỹ. Nhưng tôi cũng phải cám ơn anh ta, nếu anh không đòi xuống đảo, thì tôi ở trên chiến hạm HQ16 cũng không còn sống trên cõi đời để thuật lại chuyện bí mật này, vì khi ở trên tàu, tôi thích đứng ở trên cái pháo tháp. Khi hải chiến xảy ra, pháo tháp của HQ16 đã bị trúng đạn Trung Cộng.

Sự đổi chác giữa Mỹ và Trung Cộng:

Khoảng 10 giờ sáng, sau khi chúng tôi bị đưa vào trại giam có tên là “Trại Thu Dung Tù Binh” thuộc Huyện Hoàng Hóa, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông thì có một toán cán bộ Trung Cộng đến.

Đám này nói tiếng Việt rất rành và hầu hết đều nói giọng Bắc, dấu hỏi, dấu ngã phân minh, chính xác. Một tên trưởng toán nói với chúng tôi: “Hiện bây giờ Tiến sĩ Kissinger của Mỹ đang ngồi ở Bắc Kinh, chiều hôm nay mọi người sẽ biết tin này, chúng tôi sẽ mang đến đây một chiếc radio mở cho các anh nghe”.

Buổi chiều họ mang radio đến và mở cho chúng tôi nghe, đồng thời mở luôn cả đài phát thanh Úc Đại Lợi cho nghe luôn. Trong bản tin của đài phát thanh Trung Cộng có loan thế này: “Trong cuộc chiến đấu, chí nguyện quân Trung Quốc đã bắt được một đám tù binh miền Nam Việt Nam, trong đó có tên Thiếu tá Phạm Văn Hồng”.

Hồi đó nếu ai có theo dõi tin tức trên các đài phát thanh cũng đã nghe thấy như vậy. Điều đó cho thấy rõ ràng có âm mưu dàn xếp giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng.

Mỹ muốn dùng Hoàng Sa của VNCH làm món quà để bình thường hóa quan hệ với Trung Cộng. Muốn trao Hoàng Sa cho Trung Cộng, chính quyền Hoa Kỳ thời bấy giờ phải tạo ra một cuộc chiến, để Trung Cộng có cớ xâm chiếm Hoàng Sa, và VNCH chúng ta tuy mắc bẫy, nhưng chúng ta đã cho Hoa Kỳ, Trung Cộng và cả thế giới thấy tinh thần yêu nước của chúng ta như thế nào. Hải quân chúng ta dám đương đầu chống Hải quân xâm lược hùng mạnh hơn mình gấp bội.

Chúng ta đã anh dũng và hy sinh nhiều sĩ quan, binh sĩ Hải quân cũng như thiệt hại một số chiến hạm, nhưng chúng ta cũng đã đánh chìm một số tàu Trung Cộng tương đương và chắc chắn nhiều tên gọi là chí nguyện quân của chúng đã bị tử thương.

Thêm bằng chứng về âm mưu giữa Mỹ và Trung Cộng trao đổi Hoàng Sa:

Trước khi kể cho anh nghe chuyện trao trả tù binh, tôi cần nói thêm chuyện này: Sau khi về đến Việt Nam, tôi gặp Trung tá Lâm (khóa 10 Võ Bị Đàlạt).

Trung tá Lâm nói với tôi: “Không quân của mình đã chuẩn bị sẵn sàng từ phi trường Biên Hòa bay ra Đà Nẵng, rồi từ Đà Nẵng bay ra Hoàng Sa oanh kích, và các phi công cũng chấp nhận sẽ chơi theo kiểu Nhật, khi phi cơ bay ra Hoàng Sa thì đủ nhiên liệu nhưng lúc về thì không, do đó các anh phi công sẽ bỏ phi cơ và nhảy dù xuống biển, tàu của Hải quân ta ứng trực sẵn sàng để tiếp cứu.

Mọi việc đã chuẩn bị đâu vào đấy, nhưng phút chót lệnh này bị hủy bỏ!”.

Thêm nữa, có Đại tá Lê Khắc Lý (ông này đang ở Nam California), lúc đó Đại tá Lê Khắc Lý là Tham Mưu Trưởng tiền phương Quân Đoàn I, Trung tướng Lâm Quang Thi là Tư Lệnh tiền phương, Trung tướng Ngô Quang Trưởng là Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng; các vị này gọi tôi ra thuyết trình hai lần, buổi sáng cho các cơ quan hành chánh Thừa Thiên – Huế, buổi chiều cho các quân nhân đồn trú nghe về trận chiến Hoàng Sa tại Phú Văn Lâu.

Sau buổi thuyết trình, Đại tá Lê Khắc Lý vỗ vai tôi và nói: “Toa à, cố vấn mới nói chuyện với moa, moa bảo nó: ‘Tôi không hiểu tại sao Trung Cộng nó lại đánh chiếm Hoàng Sa?’. Cố vấn Mỹ đã ‘hố’ khi trả lời tôi: ‘Trung cộng lấy Hoàng Sa, anh ngạc nhiên lắm à?’ moa mới nói trớ đi: ‘Không, ý tôi nói là tại sao nó lại chiếm vào lúc này?” Rồi Đại tá Lý nói tiếp: “Toa thấy không, tụi nó có kế hoạch cả rồi, nó đã sắp xếp hết rồi!”

Thời đó Ngoại Trưởng Henry Kissinger chuyên môn đi đêm, và Tổng Thống Mỹ Richard Nixon muốn bắt tay với Trung Cộng thì phải có một cái gì đó. Tôi nghĩ món quà chính người Mỹ muốn tặng Trung Cộng là Hoàng Sa của ta, bởi Trung Cộng muốn làm chủ Biển Đông mà Mỹ giao Hoàng Sa cho Trung Cộng, họ đâu có mất gì, chỉ tội nghiệp cho đất nước Việt Nam chúng ta là thân phận một nước nhược tiểu!

Cách đối xử của Trung Cộng với tù binh:

Phải công bằng mà nói, viết lịch sử thì phải viết trung thực, không nên viết theo kiểu tuyên truyền, cho nên tôi nói rất thật là Trung Cộng hơn hẳn Việt Cộng trong cung cách đối xử với tù binh. Họ cho chúng tôi ăn uống theo quy chế tù binh chiến tranh đã được quốc tế qui định, như tôi mang cấp bậc Thiếu tá thì để tôi ở một phòng riêng, bốn Trung úy thì cứ hai ông một phòng, như vậy chúng tôi có ba phòng ở liền nhau, còn ông Kosh người Mỹ một phòng riêng.

Mỗi ngày họ đem đồ ăn lên tận phòng cho chúng tôi, còn anh em Hạ sĩ quan và binh sĩ thì ăn ở nhà ăn tập thể của quân đội Trung Cộng. Sau thời gian 2, 3 tuần phải học tập mỗi ngày vào buổi tối để nghe cán bộ Trung Cộng tuyên truyền thế này thế nọ. Tuần lễ thứ tư họ dẫn chúng tôi đi thăm vài nơi (mấy anh chàng Trung Cộng nói tiếng Bắc, bảo là dẫn chúng tôi đi tham quan).

Đầu tiên thăm một Bệnh viện rồi thăm mấy hợp tác xã. Tôi để ý, hầu như tất cả các nơi gọi là Trụ Sở Hợp Tác Xã đều là những ngôi chùa xưa kia, bởi vì kiểu dáng là chùa, chữ đắp trên tường tuy bị đục bỏ hết nhưng vẫn còn dấu tích rõ ràng, điều đó cho thấy tín ngưỡng đã bị đè bẹp tại nước Cộng Sản đông dân nhất thế giới này!

Sau khi thăm các hợp tác xã, họ dẫn đi thăm nhà máy cơ khí. Tại đây họ giới thiệu là nơi đúc các khẩu Thượng liên và súng AK, sau đó lại dẫn đi xem nhà máy làm xe đạp, gọi là xe đạp Hồng Kỳ thì phải, rồi thăm một vài cư xá của công nhân.

Tôi có hỏi một công nhân, lương hàng tháng được bao nhiêu, thì người công nhân nói được trên 100 Nhân dân tệ, trong lúc đó chiếc xe đạp Hồng Kỳ trị giá 130 Nhân dân tệ, cho ta thấy mức sống của một công nhân trong chế độ Cộng Sản Trung Quốc như thế nào.

Trao trả tù binh:

Tôi còn nhớ hôm đó là thứ Bảy, có lẽ ngày 16, 17 tháng 2 năm 1974, sau khi cho chúng tôi ăn uống xong, họ tập trung lại và tuyên bố sẽ trả chúng tôi về Việt Nam. Họ phát cho mỗi người một bộ quần áo màu xanh và cái mũ mà anh em chúng tôi gọi đùa là cái bánh tiêu.

Một tên cán bộ hỏi tôi muốn về miền nào, Bắc hay Nam Việt Nam. Tôi trả lời: “Chúng tôi là người Việt Nam, Bắc hay Nam đều là tổ quốc tôi, nhưng hiện tại hai miền có hai thể chế khác nhau, tôi không chấp nhận chế độ của miền Bắc, tôi yêu cầu trả chúng tôi về miền Nam”.

Họ đưa chúng tôi từ huyện Hoàng Hóa về thành phố Quảng Châu, đường dài hơn 40 cây số, rồi lại từ Quảng Châu đưa ra Tô Giới tức là Thẩm Quyến để trao trả chúng tôi tại Hồng Kông. Ngay khi chúng tôi bước qua lằn ranh từ Thẩm Quyến sang Hồng Kông, người đầu tiên chúng tôi gặp là ông Tổng Lãnh Sự VNCH tại Hồng Kông.

Ông niềm nở đón tiếp chúng tôi và cho người mang đến cho tất cả anh em chúng tôi mỗi người một bộ quần áo dân sự mới toanh. Khi lên xe buýt ra phi trường Khải Đức, chúng tôi vứt bỏ lại trên xe bộ quần áo xanh do Trung Cộng cấp phát và thay đồ dân sự.




Ra đến phi trường, chúng tôi hết sức xúc động thấy Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư Lệnh Phó Hải Quân và một sĩ quan cao cấp bên Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đến đón. Vị này mang cho chúng tôi quân phục đầy đủ, ai binh chủng gì thì mặc quân phục binh chủng đó, ông còn mang cho tôi cặp lon Thiếu Tá nữa.

Chúng tôi lại thay đồ dân sự và mặc quân phục về nước. Chính phủ VNCH thuê nguyên một chuyến Boeing 727 của Hàng Không Việt Nam qua Hồng Kông đón chúng tôi trở về sau một tháng bị Trung Cộng bắt làm tù binh.

Về đến phi trường Tân Sơn Nhất, ngoài thân nhân, chúng tôi còn được đại diện các cơ quan chính phủ và quân đội đón tiếp, choàng vòng hoa và đưa về trại an dưỡng Lê Văn Duyệt để nghỉ ngơi. Câu chuyện bí ẩn trận Hoàng Sa và cuộc đời tù binh của tôi kết thúc.






Trước khi chia tay với Thiếu tá Phạm Văn Hồng, chúng tôi xin phỏng vấn ông thêm mấy câu:

Viễn Đông: Sau khi miền Nam rơi vào tay Việt Cộng, lúc đó Thiếu tá đang ở đâu?

Th/t. Phạm Văn Hồng: Tôi phục vụ tại Đà Nẵng, và Đà Nẵng bị bỏ ngỏ ngày 29-3-1975, ngày 5-4-1975, tôi bị bắt ngay đưa vào trại tù gọi là cải tạo.

Viễn Đông: Thiếu tá bị giam giữ đến ngày nào thì được thả về?

Th/t. Phạm Văn Hồng: Việt Cộng thả tôi vào tháng 2 năm 1982.

Viễn Đông: Trong thời gian bị tù, cán bộ Việt Cộng có tra vấn gì về vụ Hoàng Sa cũng như thời gian Thiếu tá bị bắt làm tù binh ở Trung Cộng?

Th/t. Phạm Văn Hồng: Không những bọn cán bộ mà ngay cả rất nhiều anh em cùng cảnh ngộ như tôi đều hỏi vụ này, đến nỗi tên tôi được anh em gọi là “Hồng Hoàng Sa”.

Một hôm trong buổi gọi là “tọa đàm” anh em có nêu vấn đề Hoàng Sa ra hỏi tên cán bộ cao cấp từ Trung Ương đến chủ tọa; tên này ấp úng và sau một phút suy nghĩ hắn nói: “Chuyện Hoàng Sa, Đảng và nhà nước ta đã có hướng giải quyết cụ thể và đã giải thích trên báo Quân Đội Nhân Dân số .. ngày…” rồi y chuyển qua đề tài khác ngay.

Viễn Đông: Khi được về với gia đình, Thiếu tá làm gì, ở đâu cho đến khi sang định cư tại Hoa Kỳ?

Th/t. Phạm Văn Hồng: Khi ra khỏi tù, tôi không về trình diện, tôi trốn lên Sài Gòn và tìm cách vượt biên. Tôi vượt biên tổng cộng 25 lần không thoát, ba lần bị bắt vào tù tiếp. Sau đó tôi trốn sang Campuchia, ghi tên giả làm Việt kiều yêu nước, mục đích để tránh theo dõi.

Khi bộ đội Việt Cộng rút về nước năm 1990, tôi xin được giấy Chứng nhận là Việt Kiều yêu nước do tòa Đại sứ Việt Cộng ở Campuchia cấp, thế là tôi về nước an toàn và cho tạm trú tại Sài Gòn.

Tôi lén gửi hồ sơ sang Bangkok, Thái Lan. Đến khi có lệnh nộp hồ sơ đi Mỹ theo diện HO, tôi được xếp vào danh sách HO 39 nhưng khi họ đối chiếu với hồ sơ tôi nộp lén ở Bangkok, thấy khớp nhau nên họ đôn lên HO 29 và gia đình tôi qua Mỹ vào năm 1995.

Viễn Đông: Qua sự kiện Hoàng Sa, Thiếu tá muốn nói thêm điều gì còn trăn trở chưa nói ra được?


Th/t. Phạm Văn Hồng: Chuyện dĩ vãng đã đi vào lịch sử, nhiều người đã kể lại trận chiến Hoàng Sa với đầy đủ chi tiết, và chúng ta sẽ còn nghe nhiều lần khác nữa, vẫn không thừa, vì đó là những điều chúng ta cần nói để vinh danh các chiến sĩ Quân Lực VNCH, đặc biệt binh chủng Hải Quân, để các thế hệ con em chúng ta biết về cha ông của chúng đã không hổ thẹn với tiền nhân, với Quang Trung – Nguyễn Huệ…

Tôi không thuộc binh chủng Địa Phương Quân nhưng có một điều tôi mong ước, đó là khi vinh danh các anh hùng gìn giữ bờ cõi tổ quốc, chúng ta đừng quên các chiến sĩ Địa Phương Quân cũng như các anh em chuyên viên Khí Tượng, họ đã đóng góp phần mình vào việc gìn giữ một phần hải đảo thiêng liêng của tổ quốc, họ đáng được tổ quốc ghi công bên cạnh tất cả các chiến sĩ Quân Lực VNCH đã vị quốc vong thân.

Tập đoàn Do Thái rất tàn ác với VNCH

Ngày 30/4/75 tan tành nước VNCH



Hà Xuân Thụ

Cuối cùng Tổng Thống Ford đã tàn nhẫn xóa sổ, làm tan tành nước Việt Nam Cộng Hòa ngày 30/4/1975.

Hãy đọc và khóc thương cho cả triệu người đã chết vì những hệ lụy kinh hoàng triền miên xẩy đến cho dân Việt.
 
Tập đoàn Do Thái tàn ác với VNCH


Nguồn: Saigon Mới & AET Nguyễn V Sơn

Ước gì tất cả những người Việt Tị Nạn CS trên khắp thế giới đọc được bài của BS Đặng Vũ Ái mà nhớ lại nỗi đau mất nước vì ai, do đâu, tại sao, mà tỉnh ngộ.

Hãy cương quyết khuyên nhủ nhau đừng về Việt Nam trong giai đoạn hiện tại để trả thù và đòi lại một phần nào đã mất mát về tinh thần và vật chất trong bàn tay bọn Việt Cộng  bao nhiêu năm qua, và nhất là để yểm trợ tinh thần cho những người bạn đấu tranh trong nước hiện  đang bị trong cảnh ngục tù.

Nếu chúng ta chỉ gào thét cái lỗ miệng xuông ở hải ngoại mà không chứng minh bằng hành động chống cộng thực tế tức là tẩy chay hàng hoá Việt cộng, tẩy chay không bước chân về Việt Nam thì chỉ làm cho bọn Việt cộng mỉm cười khinh miệt cách chống cộng của chúng ta.

Ý kiến này của tôi dù có làm mất lòng ai, dù có lên tiếng chửi tôi, tôi cũng không hề nao núng, và ngược lại tôi rất khinh bỉ kẻ đó là tên chống cộng láo khoét.

Chân thành cám ơn BS Đặng Vũ Ái đã cho chúng tôi hiểu thêm một sự thật quá phũ phàng của những tên Do Thái độc ác đã đẩy 17 triệu dân miền Nam vào lò sát sinh của bọn Việt cộng vô nhân tính. SGM.

 Sự tàn ác của Tập Đoàn Do Thái đối với VNCH

Tác giả: BS Đặng Vũ Ái - HXT edit.

Tôi là Bắc Kỳ Di Cư, và đã được mắt thấy, tai nghe những sự tàn ác của Việt Minh : thủ tiêu , tản cư bao nhiêu lần, và mỗi lần lại nghèo thêm, nhất là thấy tận mắt, những điều trái với luân lý, trái với tình người (cháu thủ tiêu chú ruột , bắt quỳ, đọc bản án viết tay, lấy đá đập vào đầu chú cho đến chết.

Chết trong đau đớn, vì phải " để dành đạn bắn quân thù", Theo lời dậy dỗ cuả Bác. Sau đó cho xác chú vào bao, bỏ thêm vài hòn đá cho nặng và cho xác chú đi mò tôm...Tất cả chỉ vì tin đồn chụp mũ, không chút chứng cớ chú là Việt Gian).

UNESCO vào những năm 1980.... có nhiều người Phi Châu giữ những chức vụ quan trọng, rất thân phe CS, và mỗi kỳ họp là Mỹ bị đem ra chửi, hoặc chế diễu. Mỹ chống CS, vậy trong kỳ ấy, Mỹ rút ra khỏi UNESCO danh chính ngôn thuận , khác với vụ Palestine kỳ này.

Hơn thế nữa, trong kỳ ấy Mỹ đã báo trước cho UNESCO 1 thời gian, mãi sau khi các yêu cầu chính đáng cuả Mỹ bị bọn cầm quyền UNESCO bác bỏ, đến lúc ấy Mỹ mới đường đường chính chính, rút ra khỏi UNESCO.

Ngay chính Kissinger khi làm Ngoại Trưởng Mỹ cũng phải nói: Đây là 2 bên cùng phải (cùng có lý) gặp nhau (Palestine và Do Thái)

Obama được Nobel hoà bình 2009 cố chấm dứt chiến tranh Palestine - Do Thái kéo dài từ 1948 cho đến nay.

Obama dù có muốn rút ra khỏi UNESCO , dẫu rằng " danh không chính , ngôn không thuận" , cũng nên giữ phong độ và có 1 chút liêm sỉ và tự trọng. Obama đã thiên vị Do Thái thái quá, không biết ngượng ngùng, chỉ vì ý đồ muốn tái ứng cử.

Mỹ rút ra 72 giờ trước khi bầu. Còn Đại Sứ Pháp bỏ phiếu chấp thuận việc gia nhập UNESCO cuả Palestine và Pháp vẫn ở lại UNESCO.

Từ 1988 Trung Tướng Simon cho biết nhóm thân CS trong UNESCO sẽ cho tổ chức 100 năm Sinh Nhật HCM vào năm 1990 (theo lời yêu cầu của chính phủ Hà Nội).

Chúng tôi họp liên miên, nhờ rất nhiều nhân vật có thế lực để phản đối với hai lý do:

1.- HCM làm chính trị, không làm văn hoá. Và cứ nhìn hình ảnh các Boat People thì Văn Hoá và Giáo Dục ở đâu?

2.- 1990 cũng là kỷ niệm 100 năm của De Gaulle người được dân Pháp hết sức kính nể đã 2 lần cứu nước Pháp, mà người Pháp có bắt UNESCO  làm trò hề như vậy đâu.

Ngay từ đầu năm 1990 Tổng Giám Đốc UNESCO đã tiếp nhiều người quyền thế ở Pháp chống đối tuồng cải lương HCM. Và sự tranh đấu kiên trì với những tên thiên tả đã đem lại kết quả UNESCO không tổ chức lễ trăm năm sinh nhật HCM.

Tuy nhiên vì đã ghi vào chương trình nghị sự nhiều lần như đã hứa nên UNESCO đành cho thuê 1 cái phòng nhỏ với tư cách tư (private) nhưng phải theo các điều kiện:

- không có 1 dấu hiệu UNESCO ,

- không được treo cờ VC, và ảnh HCM,

- tất cả các thiệp mời phải in lại không được lấy danh nghiã UNESCO mời.

Nhưng nói dối là nghề của chàng: VC khoe ầm ĩ ở trong nước: UNESCO tổ chức lễ tưởng niệm 100 năm HCM .

Tôi chỉ đóng góp 1 phần nhỏ bé để ngăn cản cái màn kịch tiếu lâm và bất xứng này. Thiết nghĩ, VN Hải Ngoại nên ghi ơn những người Pháp quyền thế, có đạo đức tinh thần, không ưa CS, đã đứng về phe VNCH nhiệt tình giúp đỡ chúng ta trong việc này.

Tôi nghĩ lòng biết ơn là 1 giá trị tinh thần cao qúy,  là căn bản cũa Đạo Đức và tình người. Giá trị của lòng biết ơn vượt rất xa những lời xuyên tạc sự thật và những câu nói có vẻ móc họng, khiếm nhã không thể chấp nhận được.

Nay xin trở qua vấn đề Do Thái - VNCH:

1 - Do Thái không bao giờ công nhận VNCH: Tất cả các đồng minh cuả Mỹ đều có tòa Đại Sứ ở Sàigòn, trừ 1 đồng minh thân cận nhất và mang ơn nước Mỹ nhiều nhất là Do Thái thì lại không có Đại Sứ.

Tôi còn nhớ, vào những năm 1958, 1959 ở trường CVA có 1 giáo sư Anh ngữ rất giỏi là Linh Mục Long ( ? ). GS sống ở Mỹ nhiều năm, biết rõ Mỹ và vấn đề geo - politics của Mỹ, thời ấy.

Đại khái, GS dậy chúng tôi là New York City khác với New York State, có con sông Hudson với khu Manhattan, Bronx Brooklyn, Queens....

Một buổi sáng, sau khi đã dậy xong giờ Anh ngữ, các bạn cùng lớp với tôi đã ra ngoài đến quá nửa, GS nói với độ 10 người còn ở lại và đứng gần GS : Các anh nên biết là Do Thái mới là quan trọng nhất với các chính khách Mỹ chứ không phải là VNCH. Tôi đã ghi nhớ điều này vì hay có tính tò mò, và muốn kiểm chứng.

2- Năm 1966 Moshe Dayan, tướng độc nhỡn Do Thái, sang thăm chiến trường VN, không thèm xin phép chính phủ VNCH, mà xin thẳng với chính phủ Mỹ. Ông ta đi thăm vài chiến trường với vài tướng Mỹ.

Mục đích duy nhất của việc viếng thăm này để chứng tỏ ông ta đã quan sát kỹ lưỡng những điều mắt thấy tai nghe trên chiến trường VNCH chứ không phải của người ngồi trong tháp Ngà.

Mấy tháng sau ông viết 1 bài nhận xét, mà trên nguyên tắc chỉ phổ biến ở Do Thái, nhưng vì lẽ Do Thái nắm trọn các Médias trên thế giới cho nên có tiếng vang mạnh mẽ trong dư luận, nhất là trong các chính quyền Mỹ và Đồng Minh.

Tôi không nhắc đến những chi tiết mà chỉ nhắc lại câu kết luận hùng hồn đểu cáng với VNCH: Mỹ không thể thắng được, vậy cách hay nhất là rút quân đội Mỹ khỏi South of VN ".

Bản báo cáo của Moshe DAYAN gây 1 cú shock cho những nhà lãnh đạo quân sự Mỹ và Đồng Minh, sau ngày Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh VN chỉ có 1 năm.

Thật là khốn nạn, đê tiện và bẩn thỉu đối với VNCH. Đối với Do Thái, VNCH phải chết để cho Do Thái sống với nguyên tắc: Mỹ không thể lưỡng đầu thọ địch.

3- TT Lyndon Baines Johnson (1908 - 1973) là vị TT mà tôi rất quý vì là người đã ra lệnh :

- Bỏ bom miền Bắc,

- Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng tháng 8 – 1965.

- gửi thường xuyên 3,000 máy bay trực thăng đến VN. Mỗi khi có những máy bay trực thăng bị phá hủy thì cho thay ngay lập tức, để cho con số máy bay trực thăng vẫn ở mức 3,000.

- gửi 500,000 quân Mỹ sang tham chiến tại VN ,và lập rất nhiều căn cứ quân sự, nhiều phi trường ở VN.

- lập 3 căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan để chi viện thêm cho chiến trường VN.

- huy động được các nước Đồng Minh gửi tổng cộng 100 000 quân sang VHCH : Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan ......

- ra lệnh cho các pháo đài bay B52 từ đảo Guam bỏ bom các mật khu VC và đường mòn HCM: mối đe dọa khủng khiếp đối với VC. VC bị thiệt hại về quân số và võ khí rất nhiều trong những cuộc ném bom của pháo đài bay B52.

- ra lệnh cho 4 hàng không mẫu hạm Mỹ đậu thường xuyên ở ngoài khơi VNCH. Trong trường hợp có 1 chiếc rời đi nơi khác, thì lập tức 1 chiếc hàng không mẫu hạm khác đến thay thế, để vẫn ở mức 4 hàng không mẫu hạm.

- ra lệnh cho quân đội Mỹ mở các cuộc tấn công VC trong chiến thuật truy lùng và tiêu diệt VC (Searchs and Destroys ).

Nhưng Do Thái nắm quyền Médias Mỹ thường xuyên đả kích Johnson là vị Tổng Thống đắt tiền nhất của Mỹ, vì đã giúp đỡ quá nhiều cho chiến tranh VN (thay vì để giúp Do Thái!)

Hơn 1 lần TT Johnson đã nói với báo chí : nhiều đêm tôi không ngủ được vì nghĩ tới chiến trường VN.

Médias Do Thái và Médias Mỹ tấn công Johnson liên tục, khiến ông phải từ bỏ ý định ra tái tranh cử để dành hết tâm lực cho VNCH mà ông coi là vấn đề chính.

Johnson trong sạch không hề có tiếng tăm xấu trong suốt thời gian tại chức, ông rất ngay thẳng không ưu đãi người thân của mình: 2 con rể của ông đều bị gửi sang chiến trường VN.

Hai người con gái của ông ta khóc lóc nức nở và nói về 2 người con rể của ông ta. Ông rất đau lòng vì khi 2 người con gái dùng những động từ trong thời quá khứ, thì có nghiã là các cô ấy coi như chồng của họ đã chết rồi.

Ông nói: tôi rất xúc động, tôi thông cảm với 2 con gái tôi, nhưng việc công là việc công. Johnson thực là TT Mỹ có lòng nhất với VNCH. Cá nhân tôi , hết sức cảm tạ và ghi ơn công của TT Johson, hết lòng chung thuỷ đối với VNCH.

Ông gặp nhiều điều không may: sự tấn công cuả các Médias Mỹ, rất nhiều cuộc biểu tình phản chiến ở các nước Âu Mỹ (Do Thái giật dây), Biến Động Miền Trung bởi HT Thích Trí Quang.

Chắc quý vị còn nhớ bức hình Thích Trí Quang. Ngồi trên xích lô, nét mặt cưng cưng đăng trên trang bìa Times, hay Newsweek ? với tựa đề: người đã làm rung chuyển nước Mỹ. Với dự định tách rời vùng 1 cuả Tướng Nguyễn Chánh Thi và những thuyết pháp liên tục của Phật Giáo Ấn Quang, sực mùi chống Mỹ.

Viết đến đây tôi nghĩ tới sự thành công của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong vụ đập tan Biến Động Miền Trung.

Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968,  tướng Kỳ đích thân chỉ huy các vụ phản công Việt Cộng vì Tướng Tổng Tư Lệnh Nguyễn Văn Thiệu đang ăn tết ở Mỹ Tho.

Tướng Nguyễn Cao Kỳ với tính bộc trực, đã nhiều lần phản đối MỸ khi quá đà coi thường QLVNCH.

4 - Trong khi đó tên nghiện rượu, đầy tớ vô liêm sỉ của Do Thái, BUSH con, nhờ thế lực của bố, trốn đi lính ở VN và chỉ phục vụ trong lãnh thổ Mỹ để được an toàn tối đa.

5 - Hèn nhát thay cho BUSH con. Hắn là 1 đại họa cho nước Mỹ và thế giới. Hắn làm uy tín của Mỹ thụt lui xuống rất sâu. Khi rời chức vụ năm 2000, TT Clinton đã để lại 1 ngân quỹ thặng dư tới 200 Billions of USD.

Vâng lệnh Do Thái, bất chấp LHQ, bất chấp dư luận toàn thế giới, tổng cộng có tới 7, 8 triệu người đi biểu tình ở các nước Tây Âu chống lại hành động ngu xuẩn. BUSH con đã lạm dụng quyền hành tấn công 1 nước Iraq.

Nhưng tất cả các Médias bị ảnh hưởng Do Thái  khắp  Âu Mỹ nói rất ngắn về những biểu tình này hoặc đơn giản hơn, họ không nói gì hết.

BUSH con gây chiến tranh IRAQ, tốn kém hơn một ngàn tỉ đô la. Hơn 4.000 lính MỸ chết 40,000 người bị thương nặng phải nuôi họ suốt đời.

Bush con ngu xuẩn nếu hắn cứ để lại Saddam Hussein tại chức, đồng minh của TT Ronald Reagan trong việc chống lại Iran.  Mỹ có nhiều phương tiện để kiểm soát và dễ làm áp lực với IRAN hơn. Và mối lo Iran ngày nay làm sao có được.

Ngân quỹ thặng dư 200 Billions USD khi mãn nhiệm kỳ cuả TT Clinton, BUSH con không khéo quản trị, đến nỗi ngày nay nước Mỹ nợ nần ngập đầu. Mặc dầu còn mạnh nhưng Mỹ bị coi thường trên thế giới, nếu không muốn nói là bị coi khinh.

5-Thái độ thiên vị Do Thái và đê tiện đối với dân chúng của Palestine đã gây thù oán vô ích với trên 1 tỷ người Muslims. Đó là nguyên do độc nhất của thảm họa ngày 11 September 2001 và Bush con lại gây chiến tranh với Afghanistan kèm theo bao nhiêu hệ lụy khác.

6 - Do Thái đã tổ chức từ rất lâu việc Mỹ phải bỏ rơi VNCH. Tuyên truyền cho dân chúng VN mạnh nhất thời ấy là Đài Phát Thanh Mỹ, với những phương tiện kỹ thuật và truyền thông tối tân. Trong khi Đài Phát Thanh Sài Gòn lại chỉ nghe được ở Sài Gòn mà thôi.

Khi đơn vị tôi ở Huế, tôi không có cách nào nghe được đài Sài Gòn, vì nó kêu rè rè, trái lại đài Hà Nội và đài Giải Phóng nghe rõ mồn một. Vì thế, đầu năm 1969, tôi được nghe thơ chúc Tết của HCM, với những câu như : Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào....

Khi VC có AK54, và B40 rất tối tân, quân đội VNCH xài súng ống thời 1945.

Chúng ta không có những missiles USA M72, mà Mỹ cung cấp cho Do Thái năm 1973 để tiêu diệt những xe tăng lớn của Liên Sô và tiêu diệt tất cả những hỏa tiễn Sam của Liên Sô (Mỹ bán cho Ai Cập) .

Cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 rất to lớn, xẩy ra ở trên 50 tỉnh và thành phố VNCH, đặc biệt là ở Sài Gòn và Huế (Huế bị chiếm trong gần 1 tháng với số nạn nhân 8.000 người và rất nhiều mồ chôn tập thể ).

Trong khi quân đội VNCH, theo cam kết nghiêm trọng của VC và Bắc Việt là ngưng chiến trong 4 ngày Tết, có đến 80 % quân đội đi phép. Nhưng không một người lính Mỹ nào đi phép cả.

Nói khác đi, quân đội Mỹ tập trung đầy đủ trong tất cả các căn cứ quân sự Mỹ. Lệnh trên ban xuống : Mỹ không được làm gì cả trong 36 giờ, mặc sức cho lính VC tấn công, chiếm đóng như vào chỗ không người.

Tại sao là đồng minh với nhau mà lại có cái lệnh kỳ cục, quái đản, ác đức như vậy? Thiết nghĩ đó là lệnh của Bố Mẹ Do Thái mà quyền hành, trong nhiều trường hợp, đã hơn 1 lần chứng tỏ, còn cao hơn cả quyền hành của TT Mỹ. Đó là thời điểm bắt đầu của sự kết liễu của VNCH.

Viết đến đây, tôi rớt nước mắt thương cảm những người chiến binh của VNCH, những thường dân VNCH đã bị chết hoặc bị thương nặng do những mánh lới bất nhân, giết người, có tính toán của tập đoàn 15 triệu người Do Thái trên khắp thế giới, đã áp đặt lên trung tâm quyền lực quân sự Mỹ.

Xin nhắc lại, vũ khí của quân lực VNCH rất lỗi thời. Sau cuộc TCK Tết Mậu Thân 1968 và chờ thêm 3 tháng nữa, những khẩu M16 mới bắt đầu được trao rất từ từ cho Quân Lực VNCH.

Nếu quân đội Mỹ can thiệp ngay từ phút đầu tiên thì VC làm sao dám múa gậy vườn hoang như thế. Không những thế, lệnh tối cao của quân đội Mỹ ban xuống cho tướng Westmoreland là cấm tấn công, mà chỉ được phản ứng tự vệ mà thôi.

Lệnh quái đản như thế ban xuống cho tướng Westmoreland, nếu không là áp lực của Lobby Do Thái thì do ai?

Do Thái nắm hết các Médias Âu Mỹ, tổ chức các cuộc xuống đường chống chiến tranh VN, nhờ các cơ quan truyền thông mà Tập đoàn Do Thái làm chủ cổ võ, và xúi dục. Do Thái chịu mọi phí tổn cho rất nhiều cuộc xuống đường ở các nước Âu Mỹ chống lại chiến tranh VN.

Do Thái Henry Kissinger khuyên Nixon bỏ VNCH để đi với Trung Cộng. Chính hắn chủ trương và xếp đặt cho cuộc gặp gỡ Nixon - Mao Trạch Đông.

Nixon đã từng nói với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai (1972): nếu chúng tôi là bạn của 1 nước CS lớn ở Á Châu thì tại sao tôi lại không chấp nhận cho 1 nước CS nhỏ ở Á Châu ( VC ). Tuy nhiên, nước chúng tôi là nước dân chủ nên không thể thay đổi ngay tức khắc, hãy để cho chúng tôi chuẩn bị trong 3 năm. Quả nhiên, 3 năm sau, 1975, VNCH không còn tồn tại.

Do Thái rất mạnh ở trong Quốc Hội Mỹ, phản chiến và bỏ rơi VN cũng ở Quốc Hội Mỹ. Trong hành pháp thì Do Thái Kissinger (mà TT Carter gọi là Tổng Thống Mỹ về ngoại giao, tức là có ý coi TT Gérald Ford để mặc Kissinger toàn quyền quyết định những việc ở bên ngoài nước Mỹ, mà quan trọng nhất là VN).

Để giữ đúng lời với Mao Trạch Đông cho VNCH chết vào khoảng 1975, quốc Hội Mỹ cùng với Hành Pháp Mỹ, do Do Thái Kissinger lèo lái, TT Gérald Ford chuẩn bị bức tử VNCH.

Ngay từ đầu năm 1974, viện trợ Mỹ về kinh tế giảm 1 nửa, viện trợ về quân sự giảm 1 nửa. Đến năm 1975 lại còn cắt giảm nhiều hơn nữa. Tỉnh lỵ Phước Long bị VC chiếm trọn cuối năm 1974. Do Thái Kissinger khuyên TT Ford mặc kệ VNCH.

Ngày 10 - 03 - 1975 mất Ban Mê Thuột, tinh thần quân lực VNCH xuống thấp. Trong lúc nguy khốn, VNCH xin Mỹ viện trợ gấp 700 triệu USD (món tiền này chỉ là 1 khoản rất nhỏ so với số viện trợ của Mỹ cho Do Thái).

Do Thái bầy mưu để cướp không 700 triệu USD vũ khí, ưu tiên cho VN: Đầu tiên, quốc hội Mỹ bằng lòng bỏ ra 700 triệu USD về vũ khí.

Giai đoạn 2 , quốc hội Mỹ chận món tiền này lại với lý do hết sức khốn nạn là: "cho VNCH bao nhiêu cũng không đủ, vậy giữ lại để tiết kiệm". Chính phủ VNCH hết sức lo sợ vì tinh thần quân đội xuống thấp, VC đã tới tận Phan Rang , Phan Thiết rồi..

Chính phủ VNCH, lạy van Mỹ đến mức, nếu Mỹ không cho 700 triệu USD đã tháo khoán thì chỉ xin các ông 1 lời nói trước báo chí để gây lại tinh thần cho quân đội và nhân dân VNCH rằng: " 700 triệu USD về võ khí cho VNCH sẽ được chấp thuận, nhưng phải nghiên cứu thêm vài chi tiết ".

Tức là chúng ta chỉ xin Mỹ 1 lời hứa cuội. Quốc Hội MỸ (dưới ảnh hưởng cuả Do Thái) họp báo nói “không có 1 cent cho VNCH ". Đau đớn thay!

Cái bẩn thỉu của Do Thái với VNCH ở chỗ : đối với các nước dân chủ pháp trị , 1 khi 700 triệu USD võ khí đã được quốc hội tháo khoán thì chính phủ bắt buộc phải tiêu. Nhưng Quốc Hội Mỹ lại cố ý không cho gửi các võ khí đó sang VN, như đã nói ở trên. VNCH mất ngày 30 - 04 - 1975.

Ba tháng sau, Lobby Do Thái biết rõ nguyên tắc ấy và quốc hội Mỹ cho TT Ford xử dụng 700 triệu USD võ khí, không phải để gửi sang VN , vì VNCH không còn nữa, mà là để gửi sang cho Do Thái !!

Khi ấy, tôi đã sang tới Pháp, và khi đọc những tin này trên báo chí, tôi giận điên người. Lính Mỹ, gỡ các nhãn hiệu gửi sang VNCH trên các thùng võ khí, sau đó dán lại nhãn hiệu gửi sang Israel.

Do Thái không có chiến tranh, và cũng không ở thế cực kỳ nguy hiểm như VNCH. Cần nói thêm là cô đào cởi truồng Do Thái Jane Fonda, là 1 trong những lãnh tụ phản chiến VN rất dữ dội, đã sang tận Hà Nội để gặp HCM và tuyên bố hoàn toàn ủng hộ VC. Do Thái Henry Kissinger nói: Tại sao chúng nó (VNCH ) không chết phứt hết đi cho rồi.

Khi tình hình VNCH nguy ngập. Lúc ấy là 2 giờ sáng ở Washington, TT Ford đang ngủ. Kissinger cho đánh thức TT Gerald Ford và khuyên TT Ford bỏ rơi VNCH.

Kissinger nói gì mà TT Ford chẳng nghe , vì TT Ford là 1 con người rất tầm thường. Và Mỹ bỏ rơi VNCH như cái giẻ rách. Độc hại hơn, Kissinger khuyên TT Ford bỏ hẳn dự định làm hàng rào an toàn bởi lính Marines Mỹ và QLVNCH còn lại.

Con đường hàng rào an toàn ấy sẽ nối liền Sài Gòn và Vũng Tầu để cho các gia đình VNCH đi thoát (tương tự như 1954-1955, Pháp giữ 2 thành phố Hànội và Hải Phòng trong 1 năm cho Bắc Kỳ Di Cư). Pháp mặc dầu thua to ở Điện Biên Phủ số thương vong cao hơn Mỹ, lại eo hẹp rất nhiều về phương tiện, nhưng đã cư xử với Đồng Minh Việt Nam Quốc Gia một cách rất trung hậu , có tư cách, có phong độ ,và có tình nghĩa.

Mỹ giầu hơn, mạnh hơn Pháp rất nhiều, lại dư phương tiện, nhưng Kissinger  vâng lời tập đoàn 15 triệu người Do Thái, khuyên TT Ford bỏ ngay VNCH không thương tiếc.

Do Thái Kissinger khuyên TT FORD tài tình đến nỗi mấy ngày trước khi Sài Gòn mất. TT Ford trả lời 1 cuộc phỏng vấn cuả mấy ký giả trên đường đi đánh Tennis về thái độ và quyết định của TT trước tình hình VNCH đang xụp đổ. Ford trả lời dứt khoát không cần suy nghĩ : "Xin các ông tránh ra , để cho tôi đi đánh Tennis cho kịp giờ "

Trong khi đó, bên kia bờ Thái Bình Dương , hàng trăm ngàn gia đình , hàng triệu người VNCH đang than khóc , đang lo lắng ......

Tập Đoàn Do Thái đã thành công rực rỡ, vẻ vang trên hàng triệu người chết vì tài ba, nhưng không có đức độ của họ. Nạn nhân là nhân dân và Quân lực VNCH, Mỹ và các nư c Đồng Minh....

Tuy nhiên, đấy chỉ là những con số, không lấy gì làm quan trọng, làm mủi lòng tiếc thương của họ.

Vấn đề chính yếu :

1- Tập đoàn Do Thái mạnh bình an, Mỹ phãi viện trợ cho Do Thái (hàng chục billions USD mỗi năm , trực tiếp và gián tiếp, với tiền đóng thuế cuả dân chúng Mỹ).

2- Quốc Hội Mỹ theo Do Thái, và các chính khách Mỹ đều dặt quyền lợi Tối Cao của Do Thái trước quyền lợi tối cao của Mỹ.

Còn nhiều chi tiết nữa, nhưng thư đã quá dài, viết thêm chỉ thêm đau lòng cho VNCH.

Friday, April 6, 2012

Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm tù

Đỗ Thị Minh Hạnh  7 năm tù

15 March, 2012
Dân làm báo, Ngô Đ. Tựu, HXT

Hôm nay ngày 13/3, Đỗ Thị Minh Hạnh, người con gái miền Nam, tròn 27 tuổi. Và cũng tròn 3 năm Hạnh sống trong tù với bản án 7 năm oan nghiệt, bất công và vô nhân đạo, chỉ vì đã dám lên tiếng bảo vệ nông dân và công nhân bị tước đoạt quyền lợi chính đáng của mình.

Hãy bền bỉ, chân cứng đá mềm nghe Minh Hạnh!

Hãy “luôn luôn vững vàng và sẽ sống với mơ ươc và hoài bão, luôn hướng đến tương lai tốt đẹp đầy niềm tin yêu cuộc sống” – như em viết trong thư gửi từ nhà tù ra.

Mọi người nhớ em, cầu mong em mạnh khỏe, vượt qua các điều kiện nghiệt ngã và bình an trở về với mọi người!

(Danlambao) - Hôm nay – ngày 13 tháng 3 – sẽ là một ngày rất bình thường nếu tôi không biết Hạnh. Tôi còn nợ cô bé ấy nhiều lắm. Có nhiều điều còn nhớ mãi, có những chuyện sẽ không thể nào quên. Thế nhưng, Hạnh vào tù đã được 3 năm, tôi chưa bao giờ viết được một bài trọn vẹn cho em.

Có lẽ, tình càm tôi dành cho Hạnh đã bão hòa, đã đầy ắp để mỗi con chữ về Hạnh cũng là thừa. Có lẽ, tôi nhìn thấy sự thừa thãi trong những dòng chữ của mình vì đã có nhiều người viết về Hạnh mặc dù họ chưa được gặp em một lần.

Mặc dù họ chưa được một lần nghe Hạnh hát, những bài hát do em tự đặt lời, giọng tự nhiên, trong sáng, không chải chuốt. Nhưng, quả thật, những dòng chữ họ dành cho Hạnh thật ấm áp, thật nghĩa tình như đã quen Hạnh từ lâu.

Như một Nguyệt Quỳnh đã dành cho Hạnh một chỗ đứng thật đẹp trong lòng dân tộc: “tôi nhìn thấy tuổi trẻ đang vịn vai Hạnh đứng dậy, dân tộc tôi đang cần vịn vai em để bước đi cùng nhân loại”

Như một Bác 8 Bến Tre đã dành cho Hạnh một phần trang trọng trong lịch sử: “Giai đoạn hậu Cộng sản ở nước ta, lịch sử sẽ được chép lại để vinh danh các anh thư hào kiệt Việt nam, trong đó chắc chắn có tên Đỗ thị Minh Hạnh”

Như một Vũ Đông Hà, chưa gặp Hạnh bao giờ những ông cũng đã viết về Hạnh bằng những ngôn từ chuẩn xác về một cô gái bình dị, nhưng không bình thường ở xã hội hôm nay: “Hạnh đã cùng với Hùng lên đường, phẫn nộ nhưng không hận thù, hiền hòa nhưng dũng cảm, chông gai nhưng không khiếp nhược, thất bại nhưng không sờn lòng”

Quả thế, trong một xã hội mà tầm nhắm của mọi người chỉ ngừng lại ở tất cả những cụm từ có chữ “khủng” và “siêu” đi cùng thì có lẽ Hạnh là người không bình thường khi can đảm từ bỏ tuổi 20 để dấn thân cho lý tưởng của mình.

Có lẽ Hạnh đã không bình thường khi dám dứt khoát từ bỏ cuộc sống ấm êm bên cạnh người Mẹ và Cha yêu thương em hết lòng để lên đường đi vào một xã hội đã bị đời bỏ quên, để cuối con đường đó là một nhà tù giam lại tuổi thanh xuân, nhốt chặt bao nhiêu hoài bão của em.

Bỏ gia đình ra đi, Hạnh sống tự lập để có thể giúp đỡ cho dân oan, cho người lao động mà không phải liên lụy đến Ba Mẹ bởi những hoạt động của mình. Ngay cả trong tù, Hạnh cũng chỉ nghĩ đến người khác: nhờ gửi quà cho Hùng, cho Chương trong ngày sinh nhật. Thăm hỏi bác Giang, bác Truyển, papy Liêm.

Nhịn ăn sáng để mua mì gói cho một cặp vợ chồng già không có người thăm nuôi trong tù, xin những xuất công quả của Mẹ để cho hai anh em đang bị giam cùng trại, nhường thuốc của mình cho người tù khác v.v… Có lẽ cuộc đời của Hạnh chỉ nghĩ đến người khác, chỉ sống vì người khác. Viết đến đây tôi tưởng chừng như ngửi lại mùi dầu khuynh diệp một buổi chiều ở ML. Hạnh ơi, có nhớ không?

Những ai đã có lần biết Hạnh, có lẽ sẽ nhớ mãi đôi mắt long lanh sáng của em chứa cả một bầu tâm huyết, Hạnh tin ở con người, cuộc sống, Hạnh tin mãnh liệt ở lý tưởng và điểm đến trên con đường chông gai mà em đã chọn. Bởi đó là hoài bão của em. Hoài bão của Hạnh không phải là một người chồng giàu, một căn nhà đẹp mà là một cuộc sống công bằng, cơm no cho người nghèo, áo ấm cho kẻ không nhà. Và em đã chọn một lối đi riêng cho mình – không giống những cô gái đồng trang lứa – để thực hiện hoài bão đó.

“Con đã bán cái xe honda và xin tiền của Mẹ để đi Thái Lan” Hạnh kể và cười rất tự nhiên. Nhưng không ai biết đó là cái vốn liếng cuối cùng của cô để có thể gặp Hùng, lúc đó Hùng đã sang Thái Lan trước. Không ai biết cô đã phận gái một mình đi qua nhiều chặng đường, qua nhiều ngõ gian nan để gặp những người lao động.

Không ai biết những vũng lầy đất đỏ cô đã trải qua trên Bauxit Tây Nguyên, những buổi cơm hẩm với công nhân Trà Vinh. Và còn nhiều điều không ai biết được về sự can đảm đến độ gan lì của cô bé này. Tất cả cũng chỉ vì điều mà cô vẫn ước ao, điều mà cô vẫn la to ngay cả trước mặt quan tòa trong tòa án ở Trà Vinh, đó là: “tôi chỉ muốn thực hiện hoài bão của mình”.

Ngay cả trong tù, Hạnh vẫn luôn lạc quan với niềm tin trong sáng vào chân lý, công bằng và sống với những “hoài bão” mà em ấp ủ:




  Hạnh thích hát, những bản nhạc do Hạnh tự sáng tác lời, tiếng hát tự nhiên, không gọt giũa, trong sáng vút cao. Hạnh có thể ca bất cứ lúc nào: hát bên vỉa hè cho bạn bè; hát trong trại tù những lời gửi gấm đến công an, quản giáo (với những lời Hạnh tự sáng tác mà một “bạn tù dân chủ” nhốt chung với Hạnh cũng phải suỵt khẻ), hát trên đường đi đến tòa án, tiếng hát vươn lên trên mọi sự sợ hãi đã làm Hùng và Chương cũng cất tiếng hát theo và đã khiến công an phải bịt miệng Hạnh lại.

Tấm ảnh bịt miệng cha Lý đã vượt đại dương để đến thế giới tự do, rất tiếc chúng ta thiếu một tấm hình “không ai ngăn nỗi lời ca” của Hạnh. Hôm nay, sẽ là một ngày rất bình thường nếu tôi không biết Hạnh. 27 tuổi, 3 lần sinh nhật trong tù.

Hạnh chọn con đường vượt lên tất cả những mơ ước đời thường, nhưng có lẽ đâu đấy Hạnh cũng ao ước một mái ấm gia đình khi em đọc trong mắt Ba Mẹ nỗi mong đợi đó. Mong cho con mình có một đời sống như mọi đời sống bình thường khác: một tấm chồng, một mái nhà, những tiếng cười trẻ thơ.

Có lẽ, em chưa đáp lại được sự mong đợi của Ba Mẹ, nhưng tình yêu thương em dành cho Ba Mẹ thật tràn đầy. Tình yêu thương mà em đã gửi gấm qua những nét chữ kẻ dòng gửi từ trại tù Bình Thuận:


Trong tù, một lần bị biệt giam, Hạnh suýt chết khi bồn nước trong nhà giam bị bể, Hạnh bị nước cuốn trôi đi. Bị giam chung với bệnh nhân HIV trong khi thân thể bị ghẻ lở. Bị bịt miệng, bị trói tay chân và đánh, thế nhưng Hạnh vẫn không chịu gọi công an trại giam là cán bộ và vẫn rất nhiều lần viết vào tờ tự khai bằng những dòng chữ to: TÔI KHÔNG CÓ TỘI!

Can cường như thế, cứng rắn là thế, nhưng Hạnh vẫn là một phụ nữ với tất cả những thường tình nhi nữ, Hạnh vẫn có những mơ ước bình dị là được cuộn tròn trong hạnh phúc của Ba Mẹ:


Hôm nay, em, người con gái sinh ra lầm thế kỷ đã tròn 3 tuổi tù, 27 tuổi đời. Những hoài bão chưa trọn, những giấc mơ còn dang dở sau chấn song tù. Tôi sẽ tặng em gì đây để đôi mắt em mãi sáng, để nụ cười em mãi tươi bên cạnh những buổi cơm tù?

Hôm nay, ngày 13/3, sinh nhật Hạnh, tôi sẽ không tặng em một bó hoa vì hoa không thể nở trong chốn lao tù.

Mượn lời của nhà thơ Trần Trung Đạo, tôi muốn tặng em niềm hy vọng ở một ngày hội lớn của dân tộc. Ngày đó sẽ có Ba Mẹ và mọi người yêu thương em, ôm em trong vòng tay với những hoài bão đã vung đầy:

Giữa quê người còn một bài thơ
Viết cho em bằng những dòng hy vọng
Đừng gục xuống, đừng than thân trách phận
Hãy mỉm cười như một chuyến đi xa
Mẹ sẽ chờ em dù năm tháng trôi qua
Sông núi chờ em trong ngày hộ

Thay một bó hoa cho ngày sinh nhật trong tù của Hạnh.


Wednesday, April 4, 2012

Luật chăm sóc sức khỏe Obama

Luật cải tổ y tế lâm nguy

3 Apr 2012
Vũ Linh

Bắt đầu từ tuần qua, Tối Cao Pháp Viện Mỹ cứu xét đơn của 26 tiểu bang kiện chính quyền liên bang Mỹ về luật cải tổ y tế của TT Obama. Đây là gia tài lớn nhất TT Obama có thể sẽ để lại cho hậu thế, nhưng cũng có thể là thất bại lớn nhất đe dọa sẽ đưa tổng thống về nhà vui thú điền viên, viết hồi ký trong năm tới.

Luật cải tổ y tế, với cái tên chính thức tạm dịch là Luật Bảo Vệ Và Chăm Sóc Bệnh Nhân (Patient Protection and Affordable Care Act – ACA) được TT Obama ban hành cuối năm 2009 sau cả năm trời tranh cãi sôi nổi.

Luật bị khối đối lập Cộng Hòa và nhóm bảo thủ trong đảng Dân Chủ chống đối mạnh. Tuy luật chưa thực sự được thi hành trọn vẹn cho đến năm 2014, nhưng đã có nhiều hậu quả vì các hãng bảo hiểm, nhà thương, bác sĩ đã có những biện pháp chuẩn bị thi hành và đối phó với các hậu quả bất lợi cho họ.

Hai mươi sáu tiểu bang đã đưa đơn thưa chính quyền liên bang vi phạm Hiến Pháp, đi quá quyền hạn của mình trong việc ép buộc tất cả mọi người dân phải mua bảo hiểm nếu không sẽ bị phạt. Sau khi các tòa cấp dưới quyết định khác biệt nhau, vấn đề được đưa lên Tối Cao Pháp Viện, và cuộc thảo luận đã bắt đầu. Người ta dự đoán Tòa sẽ có phán quyết trong Tháng Sáu, 2012.

Đây là một bộ luật cực kỳ phức tạp, dầy cả ngàn trang, có tác dụng đảo lộn toàn diện hệ thống bảo hiểm và dịch vụ y tế của Mỹ, với những hậu quả trường kỳ và chi phí cả ngàn tỷ. Hệ thống y tế Mỹ nói chung đã có nhiều tiến bộ dưới thời các TT Johnson (Medicare) và Bush 43 (Medicare Part D), nhưng vẫn chưa hoàn hảo. Nổi bật nhất là ba chục triệu người vẫn chưa có bảo hiểm y tế, hoặc vì không muốn mua, hay đắt quá không mua nổi, hay bị bệnh nặng các hãng bảo hiểm từ chối không chịu bảo hiểm, hay là thường trú nhân bất hợp pháp.

Đó chính là một trong những bi kịch lớn nhất của Mỹ, một nước văn minh tiên tiến nhất thế giới hiện nay, mà vẫn có cả triệu người không được bảo vệ về y tế. Nhu cầu bảo hiểm y tế toàn dân chẳng những không có gì mới lạ, mà còn hoàn toàn được chấp nhận bởi tất cả mọi người, mọi khuynh hướng chính trị, cấp tiến cũng như bảo thủ, Dân Chủ cũng như Cộng Hòa (xin nhắc lại TT Cộng Hoà Nixon là người đề xướng bảo hiểm y tế toàn dân nhưng bị quốc hội do Dân Chủ kiểm soát bác bỏ năm 1972). Không một ai chủ trương bỏ mặc cả chục triệu người này. Nhưng vẫn chưa ai thực hiện được.

Điều này nói lên tính cực kỳ phức tạp của vấn đề. Không phải giản dị như một số tuyên truyền thô thiển kiểu Dân Chủ muốn giúp người ốm đau bệnh tật, Cộng Hoà muốn bảo vệ nhà giàu.

Luật cải tổ y tế của TT Obama dựa trên hai vế chính: bắt buộc tất cả mọi người đều phải mua bảo hiểm y tế, và bắt buộc tất cả các hãng bảo hiểm phải cung cấp bảo hiểm cho tất cả mọi người, bất kể họ đang bị bệnh nặng đến đâu.

Vấn đề là làm thế nào để vượt qua những khó khăn, rắc rối thực tế.

Vấn đề thứ nhất là có nhiều người hiện đang bị bệnh nặng, các hãng bảo hiểm tính mức rủi ro chữa trị quá cao, do đó, từ chối không cấp bảo hiểm cho họ. Đây hiển nhiên là điều không chấp nhận được trên phương diện nhân đạo. Nhưng về kinh tế, bắt các hãng bảo hiểm phải nhận họ, sẽ đưa đến hai tình trạng. Một là phải tăng bảo phí toàn diện cho tất cả mọi người, kể cả những người không ốm đau gì hết, và như vậy, không phải ai cũng có tiền mua bảo hiểm với giá cao.

Vấn đề thứ hai là nếu không tăng thì các hãng bảo hiểm sẽ phá sản, và lâu dài, chẳng ai còn có bảo hiểm y tế nữa. Cuối cùng, Nhà Nước sẽ phải cung cấp bảo hiểm và dịch vụ y tế như trong các chế độ xã hội chủ nghiã.

Ở đây, các hãng bảo hiểm dĩ nhiên chống đối mạnh, và Nhà Nước chỉ có cách là ra luật một mặt bắt các hãng này phải nhận, mặt khác, sẽ trợ cấp phần nào tiền bảo phí cho những người lợi tức thấp. Nhưng như vậy, sẽ đưa đến hậu quả là chi phí y tế của Nhà Nước sẽ tăng mạnh, một ngàn tỷ trong mười năm tới. Nhà Nước chỉ có hai cách giải quyết. Một là tăng thuế. Hai là cắt giảm trợ cấp Medicare hay Medicaid để chia sẻ cho những người mới được bảo hiểm.

Một miếng bánh có thêm người ăn, tất nhiên phần mỗi người sẽ phải giảm. Kế hoạch của TT Obama chưa nói đến tăng thuế, nhưng Medicare sẽ bị cắt giảm khoảng nửa tỷ đô để chuyển qua Medicaid dành cho cả triệu người mới được trợ cấp.

Ngoài ra, những người hiện không được trợ cấp sẽ phải xì tiền túi nhiều hơn để mua bảo hiểm với giá cao hơn. Đó sẽ là gánh nặng lớn cho giới trung lưu.

Vấn đề thứ hai là luật cung cầu. Nước Mỹ có đủ bệnh viện, bác sĩ, thuốc men để lo cho thêm mấy chục triệu người nữa không?

Ở Mỹ, kinh nghiệm thực tế cho thấy, với những người có bảo hiểm, nếu có chuyện gì là được chữa trị ngay, với đầy đủ phương tiện tối tân nhất, bác sĩ giỏi nhất, thuộc men hiệu nghiệm nhất, chăm sóc chu đáo nhất. Nói về phẩm, không có nước nào có thể so sánh được với Mỹ. Lấy một ví dụ tầm thường, muốn đi soi ruột và đốt mụn trong ruột, chỉ cần đi bác sĩ, lấy hẹn, trong vòng vài ngày là xong.

Âu Châu và Gia Nã Đại là những nơi được coi như tiến bộ hơn Mỹ rất xa về chuyện bảo hiểm y tế toàn dân. Nhưng quý độc giả có thân nhân, bạn bè sống tại các nơi này đều biết, muốn đi mổ là phải chờ giấy phép của công chức Nhà Nước, và phải chờ đến phiên mình. Một bà bác của tác giả sống bên Canada, cần phải thay xương chậu, đã phải chờ sáu tháng. Sau khi thay, vẫn bị đau, phải chờ sáu tháng nữa mới được đi chỉnh lại. Trong cả năm trời, ngày nào cũng uống thuốc cầm đau, lết đi một cách cực kỳ khó khăn và đau đớn.

Một sớm một chiều, nếu có thêm ba chục triệu người cần được chữa trị, thì làm sao xây kịp cả trăm nhà thương, đào tạo được cả ngàn bác sĩ, chế thêm đủ thuốc? Tất nhiên sẽ có nhiều hy vọng Mỹ sẽ rơi vào tình trạng Canada, với thiên hạ chờ đợi dài người mới được chữa trị.

Vấn đề kế tiếp là trong những người không có bảo hiểm, có rất nhiều người không muốn mua bảo hiểm vì cảm thấy không có nhu cầu, chỉ tốn tiền vô ích. Đây là trường hợp của đại đa số giới trẻ, tự cho là mình khỏe mạnh, chưa đến tuổi có vấn đề về sức khỏe. Tại sao Nhà Nước có quyền bắt họ mua bảo hiểm y tế khi họ không cần và không muốn?

Dưới khiá cạnh kinh tế, họ cho rằng nếu họ mua bảo hiểm thì tức là họ đã giúp tăng thu nhập cho các hãng bảo hiểm để các hãng này bù đắp lại những chi phí y tế quá cao của những người già yếu bệnh hoạn. Nói cách khác, họ chính là những người tài trợ phần nào chi phí bảo hiểm y tế cho những người già yếu. Lý luận theo kiểu tư bản: họ bỏ tiền ra mà không mua được gì cho mình hết, mà là mua hàng (bảo hiểm) cho người khác (người già) xài.

Không kể đến những vấn đề chính, cực kỳ rắc rối vừa nêu, những thủ tục cực kỳ nhiêu khê để thi hành luật mới và chi phí khổng lồ, luật cải tổ y tế đặt lại một vấn đề có tính cơ bản, nền tảng của xã hội chính trị Mỹ: quyền hạn của Nhà Nước đi xa tới đâu?

Ở đây, ta thấy ngay mâu thuẫn to lớn giữa hai khối cấp tiến/Dân Chủ và bảo thủ/Cộng Hòa. Đối với khối cấp tiến, trong những vấn đề an sinh cũng như trong mọi lãnh vực khác, Nhà Nước có cánh tay rất dài. Đối với khối bảo thủ, nước Mỹ đặt nền tảng trên tự do cá nhân, chứ không phải trên một hình thức Nhà Nước vú em, phải săn sóc chu đáo cho mỗi người dân từ ngày trong nôi cho đến khi xuống huyệt. Trên phương diện kinh tế, quan điểm này là quan điểm nặng mùi xã hội chủ nghiã đã thất bại, hoàn toàn trái ngược với triết lý tư bản là chủ thuyết nền tảng của nước Mỹ này.

Đây chính là vấn đề mà Tối Cao Pháp Viện trong những ngày tháng tới sẽ phải quyết định: Nhà Nước có quyền bắt buộc tất cả mọi công dân phải mua bảo hiểm y tế hay không? Và nếu họ không mua, Nhà Nước có quyền phạt họ không?

Trên căn bản, Nhà Nước có quyền ra luật chỉ đạo một hành động, sinh hoạt –activity- nào đó của người dân. Nhưng vấn đề ở đây là người dân không mua bảo hiểm, tức là không có hành động, như vậy Nhà Nước có thể ra luật về chuyện “không có hành động” –inactivity- gì hay không? Bắt người dân phải có hành động? Lấy ví dụ cụ thể, Nhà Nước có luật giao thông, quản lý việc thiên hạ đi tới đi lui trong trật tự nếu họ quyết định ra đường đi tới đi lui. Bây giờ có người không ra đường, Nhà Nước ra luật bắt họ phải ra đường. Nhà Nước có quyền đó không?

Chính quyền Obama lập luận cần bắt người dân mua bảo hiểm vì có lợi cho họ và có lợi cho cả xã hội qua việc giảm chi phí y tế chung cho cả xã hội. Các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện đã đặt câu hỏi như vậy Nhà Nước có quyền bắt mọi người ăn rau cải để có sức khỏe tốt không? Có quyền bắt mọi người mua điện thoại di động để đề phòng trường hợp khẩn cấp không? Tất cả đều có lợi cho họ và cho xã hội mà. Lý luận như vậy thì quyền hạn của Nhà Nước đến đâu mới hết? Nhà Nước có quyền bắt mọi người mua bất cứ những gì Nhà Nước muốn, thậm chí báo chí của Nhà Nước hay của “đảng”, hàng quốc doanh…? Có nặng mùi xã hội chủ nghiã quá không?

Nhiều người đặt câu hỏi thế tại sao Nhà Nước có quyền bắt mọi người mua bảo hiểm xe hơi? Ở đây hai vấn đề hoàn toàn khác. Bảo hiểm xe hơi cần thiết để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng tài trợ việc mua xe, và bảo vệ quyền lợi của đệ tam nhân trong trường hợp gây tại nạn thiệt hại cho họ. Bảo hiểm y tế chỉ liên quan đến cá nhân người mua bảo hiểm.

Chính quyền Obama cũng lập luận mua bán bảo hiểm y tế là một dịch vụ thương mại liên tiểu bang –interstate commerce-, do đó theo Hiến Pháp, lập pháp có quyền ra luật để điều hành sinh hoạt đó. Cụ thể là người dân có quyền mua bán cái gì, giá cả thế nào, cạnh tranh ra sao, phẩm chất thế nào, mua bao nhiêu, …

Nhưng trên nguyên tắc pháp lý, nếu một người không mua một món hàng, thì không có giao dịch thương mại, do đó, luật thương mại liên tiểu bang không áp dụng, Nhà Nước không có quyền ra luật gì liên quan đến chuyện “không mua” hàng, và Nhà Nước không có quyền phạt một người nếu người đó không tham gia vào một sinh hoạt thương mại, tức là không mua một món hàng. Ở đây, chính quyền Obama đã dùng luật giao dịch thương mại để áp dụng vào một người chưa tham gia vào một giao dịch thương mại.

Chính quyền Obama lập luận là “không tham gia” vào một giao dịch thương mại cũng có nghiã là đã gián tiếp tham gia rồi, vì việc không tham gia đó sẽ có ảnh hưởng đến giá cả món hàng. Nghiã là bảo phí sẽ tăng nếu nhiều người không mua bảo hiểm.

Đây là những vấn đề pháp lý cơ bản cực kỳ phức tạp mà kẻ viết này không có khả năng đào sâu, mà chỉ lập lại vài lý luận chính. Ngay cả những luật gia thượng thặng của Mỹ cũng đang bù đầu tranh luận. Cho đến nay, chưa ai biết quyết định cuối cùng sẽ như thế nào, tuy có nhiều hy vọng điều luật bắt buộc mọi người mua bảo hiểm sẽ bị xét là vi hiến và sẽ phải thu hồi. Nếu trường hợp này xẩy ra thì sao?

Có thể là riêng điều luật này sẽ bị thu hồi, nhưng luật cải tổ vẫn được duy trì, đặc biệt luật bắt buộc các hãng bảo hiểm phải nhận những người đã có bệnh. Trường hợp này sẽ đưa đến đại họa là thiên hạ không bị bệnh sẽ không mua bảo hiểm y tế vì không còn bị bắt buộc, mà đợi đến khi mắc bệnh mới mua, chữa bệnh xong là lại bỏ không đóng bảo hiểm nữa. Ta sẽ rơi ngay vào vòng xoáy: thu nhập bảo hiểm thì ít mà chi phí thì quá cao bắt buộc phải tăng bảo phí, mà bảo phí tăng thì lại thêm nhiều người không mua bảo hiểm, khiến bảo phí lại tăng thêm nữa, … Cho đến một lúc nào đó thì cả hệ thống sẽ xụp đổ, tất cả hãng bảo hiểm phá sản.

Đưa đến tình trạng có thể toàn thể bộ luật phải bị thu hồi và đợi sau bầu cử, hoặc là TT Obama, hoặc là tân tổng thống Cộng Hòa, cứu xét lại.

Trên phương diện chính trị, đây sẽ là một thảm bại cho TT Obama. Sau gần bốn năm nắm quyền, ông sẽ ra tranh cử lại với hai bàn tay trắng, không có gì là thành tích xứng đáng được bầu lại. Trong ba bộ luật lớn mà ông đã thông qua, tất cả đều thất bại.

Luật kích động kinh tế đã chẳng giải quyết được nạn thất nghiệp và kinh tế trì trệ. Luật cải tổ tài chánh thì chẳng ai nhìn thấy kết quả cụ thể nào, các đại tập đoàn tài chánh thủ phạm khủng hoảng gia cư vẫn lớn mạnh hơn bao giờ hết, các tài phiệt vẫn lãnh lương khủng khiếp, hàng chục triệu người vẫn trong tình trạng đã hay đang bị đe dọa mất nhà.

Nói đi cũng phải nói lại, TT Obama cũng có thể sẽ khai thác tối đa những thất bại của mình để đổ thừa vì bị Cộng Hòa phá đám, để kích động khối cử tri cấp tiến chống Cộng Hòa mạnh hơn nữa, giúp TT Obama đắc cử thêm một nhiệm kỳ, bầu đa số Dân Chủ vào quốc hội, để bổ nhiệm thêm thẩm phán cấp tiến vào Tối Cao Pháp Viện.

Nếu Tối Cao Pháp Viện chấp nhận luật cải tổ y tế của TT Obama thì coi như ông ít ra cũng đã có được một bộ luật để đời, dù chưa ai biết chắc sẽ có lợi hay có hại như thế nào. Nhưng nếu luật bị bác, khó biết được sẽ ảnh hưởng như thế nào lên cuộc bầu cử. (1-4-12)