Sunday, January 8, 2012

Boat people nhớ ơn nước Đức

Boat people nhớ ơn nước Đức

Gii thoát khi đa ngc Pulau Bidong. Mùa hè 1979 ch viết báo không chưa đ. Báo Die Zeit bc 275 thuyn nhân Vit Nam đưa v Hamburg.

(Gabriele Venzky) 


Không nơi nào trên thế giới muốn nhận người tỵ nạn. Kể cả nước Đức. 7 triệu người bị trục xuất khỏi quê hương vào lúc kết thúc đại chiến thế giới thứ II, gần 6 triệu người trốn khỏi Đông Đức.

Không đâu phải đương đầu với làn sóng tỵ nạn ào ạt hơn ở Đức . Nhưng cả những đồng hương tỵ nạn cũng chỉ được đón nhận rất miễn cưỡng. Thế rồi năm 1979 đã xẩy ra biến cố có một không hai trong lịch sử nước Đức.

Giữa lúc các chính trị gia của chúng ta còn chần chừ và nại lý do số người tỵ nạn đã vượt chỉ tiêu, các trung tâm tiếp cư đầy ắp, thì người dân đã ra tay. Họ quyết định cứu giúp những người ngoại quốc xa lạ.

Những người bị hất hủi khắp nơi lại được đón tiếp niềm nở với vòng tay mở rộng và được tận tình giúp đỡ như chưa từng thấy. Đó là câu truyện thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam và báo Die Zeit đóng vai trò không nhỏ trong vụ này.

Đó là câu truyện về những con người với nụ cười bắn trúng tim chúng ta. Câu truyện bắt đầu vào năm 1978. Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc ba năm trước đó. Hình ảnh những người cố níu càng những trực thăng Mỹ cuối cùng rời Sài Gòn hãy còn rõ như in trong ký ức, sau đó là đợt người tỵ nạn cuống cuồng chạy loạn.

Bây giờ câu truyện tái diễn: từng đoàn người như dòng nước cuồn cuộn không thôi đang cố thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển. Trên những chiếc tầu cỏn con, quá tải, họ lao mình vào cõi vô định, không bản đồ, không hải bàn, nếu may mắn thì kết cục dạt vào những bãi biển vùng Đông Nam Á hay táp vào bờ đá Hồng Kông.


Nhiều người không gặp may như thế. Họ bị hãm hiếp, bị đập chết, bị quăng xuống biển, bị đắm tầu. Một nửa số người tỵ nạn rơi vào tay hải tặc Thái. Một phần ba, khoảng 500.000 người, thiệt mạng giữa đường.

Cả những chiếc tầu rỉ nước cũng bị lôi ra biển

Tôi còn nhớ tấm hình treo ở hành lang nhà trường khi tôi còn nhỏ. Đó là hình con tầu cọc cạch mang tên Exodus, lúc nhúc người trên sàn, trên 4.500 người sống sót cuộc diệt chủng tìm tới miền đất Palestina, nhưng họ không được phép cập bến.

Ngày nay , sau một phần tư thế kỷ, tôi lại thấy những tấm hình như thế trên bàn viết. Những khuôn mặt ngơ ngác lần này là người Việt Nam.

Lúc đó tôi là ký giả phụ trách vùng Đông Nam Á cho báo Die Zeit. Vì thế những mẩu tin sốt dẻo về số người ty nạn tăng vọt khủng khiếp cứ dồn dập được chuyển tới tôi.

Tuần này qua tuần khác tập tài liệu tôi ôm tới phòng họp cứ dầy thêm. Cuối năm 1978 có tới 62,000 người chen lấn trong những trại tỵ nạn vùng Đông Nam Á và không thấy dấu hiệu cho biết hiện tượng này sẽ chấm dứt.

Nhóm ký giả chuyên về lãnh vực chính trị vội vã họp lại. Chẳng lẽ không lên tiếng thức tỉnh thế giới? Thế là chúng tôi tung ra từng loạt bài, tới năm 1979 trao tay độc giả cả xấp hồ sơ.

Lúc đó chúng tôi tính từng ngày: một ngàn người, hai ngàn, bốn ngàn, và đó mới chỉ là những người táp được vào bờ.

Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc bó tay trước làn sóng tỵ nạn. Những quốc gia vùng Đông Nam Á cũng thế.

Những chiếc tầu rỉ nước cũng bị lôi ra khơi, làm mồi cho hải tặc. Chắc chắn không thoát lưỡi hái tử thần. Giữa lúc đó các chính trị gia Tây phương cứ bình tọa bàn cãi, cò cưa với những chương trình viển vông.

Có nên mua một hòn đảo và đổ thuyền nhân lên đó không? Biết đâu họ sẽ tạo nên một Singapore thứ hai!

Dần dà người ta nhận ra ý đồ của cộng sản Việt Nam: hiển nhiên họ muốn tống khứ hết người Hoa, một triệu rưởi người!

Một hôm tầu Hải Hồng xuất hiện trên màn ảnh. Kể từ con tầu Exodus thế giới không thấy cảnh tượng nào như thế: một chiếc tầu chở hàng, đúng ra là con tầu phế thải, người lúc nhúc trên sàn không chừa một khoảng trống, 2.500 con bệnh, đói, khát, không quốc gia nào đón nhận, trôi dạt không biết tới bến bờ nào.

Hải Hồng trở thành biểu tượng của đại hoạ. Với một nắm Mỹ kim những nghiệp đoàn Hồng Kông đã mua con tầu này cũng như nhiều tầu khác, rồi „bí mật“, thực ra là dưới cặp mắt cú vọ của quan chức Việt Nam, họ dồn lên tầu những người Hoa muốn ra đi.

Chỉ nguyên với tầu Hải Hồng họ đã nhét túi 10 triệu Mỹ kim. Thấy bở, nhà cầm quyền Việt Nam đứng ra độc quyền món thầu, họ xử dụng những chiếc tầu tí teo, ọp ẹp.

Từ 10 tới 20 lượng vàng cho mỗi đầu người (một lượng tương đương 37 gram), một gia đình đông người phải bỏ ra mấy kí lô vàng. Hầu như toàn thể lớp trung lưu Việt Nam bị trấn lột trước khi bị đưa ra biển phó mặc cho số mạng.

Những kẻ sống sót không được ai đón nhận. Đối với bọn người trước kia từng gào Hồ-Hồ-Hồ Chí Minh, thì sự việc rõ như ban ngày: ai có nhiều vàng để chạy chỗ ra đi, chỉ có thể là kẻ ăn bám chiến tranh đế quốc Mỹ, hoặc chủ chứa điếm hay tên hút máu đồng bào.

Trong thời chiến tranh Việt Nam, từng đoàn người, nhất là bọn trí thức, sinh viên nông nổi ở các quốc gia Tây phương thường tổ chức biểu tình phản đổi đủ thứ, nhất là chống Mỹ và ủng hộ cộng sản Việt Nam.

Khi tuần hành họ trưng hình Mao Trạch Đông, Che Guevara và Hồ Chí Minh, miệng gào thét: Hồ-Hồ-Hồ Chí Minh! Chú thích của người dịch, chứng nhân tại chỗ.

Đối với Đông Đức, nơi công nhân Việt Nam phải lao động cực nhọc, vì Hà Nội không có tiền hoàn trả những khoản trợ cấp hữu ghị, thì không có vấn đề người tỵ nạn.

Các nước xã hội chủ nghĩa cung cấp vũ khí, lương thực và hàng hoá để yểm trợ cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến. Những trợ cấp này không phải là quà tặng, nhưng là món nợ khổng lồ phải thanh toán sau chiến tranh. Cộng sản Việt Nam gửi người qua đông Âu lao động trả nợ! Chú thích của người dịch

Các chính trị gia Tây phương lươn lẹo đi tới kết luận giống nhau, bằng cách lặp lại lý luận của các quốc gia Đông Nam Á: ai có khả năng mua chỗ ra đi, bị ghép vào hạng nhập cư trái phép. Bởi thế họ không được hưởng qui chế tỵ nạn.

Mãi tới khi ông Ernst Albrecht, thống đốc tiểu bang Niedersachsen, trắc ẩn trước hình ảnh thê thảm của tầu Hải Hồng, sẵn sàng nhận 1.000 thuyền nhân tỵ nạn, lúc đó chính phủ liên bang mới tuyên bố “sau này“ sẽ nhận thêm 900 người. 

Trong khi đó 40.000 thuyền nhân tỵ nạn đang chen chúc chỉ nguyên trên đảo Pulau Bidong. Sau tầu Hải Hồng, hòn đảo Bidong này đã trở thành biểu tượng thứ hai của thảm hoạ.

Đó là một sườn dốc chênh vênh giữa biển, cách bờ Mã Lai 15 hải lý, hoang vắng vì không có nước. Thế mà giờ đây 40.000 người dồn ép nhau trên một khoảng rộng một cây số vuông.

Tháng Sáu 1979, các quốc gia Đông Nam Á tuyên bố sẽ không nhận thêm bất cứ người tỵ nạn nào khác, nếu các quốc gia kỹ nghệ Tây phương không bốc đi 300.000 thuyền nhân đang tá túc tại Đông Nam Á.

Trong tháng đó Mã Lai lôi ra khơi 54.000 người trên các chiếc tầu mong manh và dự tính đẩy thêm 76.000 thuyền nhân đã cập bến ra đại dương. Từng ngàn người chết đuối vì tầu bị sóng vùi chỉ 50 thước cách bãi biển và không ai tiếp cứu họ.

Lời kêu gọi của chúng tôi được hưởng ứng nồng nhiệt vượt dự đoán. Giữa lúc đó Josef Joffe, ông bạn đồng nghiệp ở báo Die Zeit, mang về từ Pulau Bidong những hình ảnh hãi hùng.

Tựa đề " Chỗ dậm chân trong hỏa ngục" cho bài phóng sự quả thực không quá lời. Tới lúc đó các tiểu bang vẫn còn do dự. Ai phải chi trả các phí tổn?

60.000 người hồi cư từ các quốc gia Đông Âu và 33.000 người thuộc diện tỵ nạn chính trị đã là gánh nặng quá đủ rồi.

Ở toà soạn Die Zeit chúng tôi bàn thảo suốt mấy ngày để tìm cách làm cho chính phủ liên bang đổi ý và ra tay cứu trợ quảng đại. Chúng tôi nhận ra rằng, cứ ngồi mà viết thì chẳng nên cơm cháo gì.

Bà Marion Dönhoff, chủ nhiệm tờ Die Zeit, quyết định: "Đã đến lúc chúng ta phải hành động. Chúng ta phải bốc người từ Bidong".

Bà thảo lời kêu gọi làm chủ đề đăng trên trang nhất (Số 31, ngày 27.7.1979. Chú thích của người dịch). Sự hưởng ứng rộn lên vượt sức tưởng tưởng. Chỉ trong khoảng thời gian vắn đã nhận được trên hai triệu Mã Đức.

Nhà kỹ nghệ Kurt A. Körber gửi một nửa triệu, hai bé gái khui hộp tiết kiệm được 5 Mã, một nhà tù dành cho phái nữ tặng tem trị giá 30 Mã.

Báo Die Zeit liên lạc với chính quyền thành phố Hamburg. Chúng tôi yêu cầu họ nhận người và lo phần hội nhập, chúng tôi lãnh phần chi phí ban đầu và chuyên chở thuyền nhân tới Hamburg.

Thế là đèn xanh bật lên cho 250 thuyền nhân tỵ nạn. Ngày 2.8. 1979 Margrit Gerste, bà bạn đồng nghiệp, Holmer Pabel, nhiếp ảnh gia tên tuổi trên chiến trường Việt Nam, hai nhân viên Hồng Thập Tự với trách nhiệm chọn người, và tôi cùng lên đường tới hoả ngục Pulau Bidong.

Mùi hôi thối ngột ngạt, vì chỉ có 4 cầu tiêu, nhung nhúc người chen lấn nhau đến ngộp thở, cái nóng nung người và thấp thoáng sau những sườn tầu của người tỵ nạn là đoàn tầu có gắn đại bác của Mã Lai.

Ba giờ trên tầu tới đảo, ba giờ để trở về, chỉ còn hai giờ trên đảo, vì không người nước ngoài nào được tá túc qua đêm. Làm thế nào cho xong việc với thời giờ eo hẹp như vậy?

Chúng tôi có ý định lựa lấy những trường hợp không có hy vọng, những kẻ không ai muốn nhận: gia đình đông người, trẻ em không người đi kèm, những người không biết tiếng Âu Mỹ, những người không có thân nhân ở ngoại quốc, những người già và người bệnh.

Holmer Pabel và tôi quyết định lẩn vào đám đông và ở lại âm thầm quan sát tổ chức tự phát rất chu đáo. Không bao giờ tôi quên được những ngày trên đảo tử thần này.

Người tỵ nạn cố tạo dễ dãi cho chúng tôi, họ chia sẻ với chúng tôi phần ăn thiếu thốn của họ. Chúng tôi khám phá ra nhiều gia đình không được ghi đủ mặt trong sổ của chúng tôi.

Vì thế khi rời đảo vào ngày 7.8., trực chỉ trại tiếp cư, chúng tôi mang theo 274, chứ không phải chỉ 250 người. Ông Orwin Runde, người sau này sẽ là thị trưởng, lúc đó có trách nhiệm giao tiếp với chúng tôi ở Hamburg, cũng đồng ý với con số thặng dư này.

Ngày 13.8.1979, khi tầu Cap Anamur ra khơi vớt người ở biển Đông, thì máy bay chở những người tỵ nạn thứ nhất của chúng tôi cất cánh rời Kuala Lumpur, hai ngày sau đó một nhóm 274 người khác, thêm một em bé chào đời trên đường vượt biên, đã được cứu thoát.

Nhưng có một điều còn quan trọng hơn thế nữa: chúng tôi đã phá đổ bức tường cản. Chính phủ liên bang quyết định nhận thêm thuyền nhân tỵ nạn. 40.000 người từ Việt Nam, đa số gốc Hoa, đã tìm được quê hương thứ hai trên nước Đức.

Thời đó có kẻ bi quan cằn nhằn: “50 năm nữa bọn đó cũng không hội nhập được“. Một lầm lẫn lớn! Suốt 30 năm qua họ cần cù và âm thầm làm việc để vươn lên, ngày nay hầu hết họ có nhà riêng hay phòng ốc riêng, trợ cấp xã hội là một từ gở đối với họ.

Họ rèn con cái tới khi chúng về khoe điểm nhất, điểm nhì, tỷ lệ tốt nghiệp trung học của con em Việt Nam cao hơn của học sinh Đức. Các em hồi đó còn thơ dại, nhất là các em thuộc thế hệ tiếp nối, ngày nay xử dụng tiếng Đức lưu loát.

Câu truyện thuyền nhân tỵ nạn là câu truyện của thành công:

Chúng tôi đang ngồi trong căn nhà của Van Si An, một triệu phú ở Sài Gòn thời xưa. Ôn Van sống bằng nghề lái xe buýt tại Hamburg.

Ba người con của ông đều tốt nghiệp đại học. Hai người là dược sĩ, người con thứ ba tốt nghiệp ngành thương mại, bốn đứa cháu nô đùa trong căn phòng.

Gia đình ông Van dấn thân trong các công tác thiện nguyện, cậu con trai Van Huy Tam tham gia tích cực trong lãnh vực chính trị cộng đồng và dùng giờ nghỉ để giúp giải quyết khó khăn hội nhập ở trường học.

"Chúng tôi muốn đền đáp những gì chúng tôi đã nhận được". Ngồi cùng bàn còn có ông Gerhard Katsch, ngoại bát tuần. 30 năm trước ông giúp gia đình họ Van thích nghi với quê hương mới, ngày nay gia đình nhà Van đáp trả, khi ông cần tới họ.

Chúng tôi còn giữ liên lạc với những người tỵ nạn của chúng tôi, có những người đã thành bạn thân. Trong nhà tôi treo một bức trướng với nét chữ như phượng múa rồng bay do một người tỵ nạn phóng bút tặng.

Hàng chữ nổi bật, có liên quan tới câu truyện thuyền nhân tỵ nạn: "Họ đã tạo cho chúng tôi cơ may sống sót. Ghi ơn báo Die Zeit". 

Đôi lời giới thiệu bà Gabriele Venzky 

Chính bà cũng từng là người tỵ nạn. Năm 1945, lúc sắp ngưng tiếng súng, gia đình bà từ miền tây xứ Phổ và từ Berlin đã trôi dạt về Oldenburg với hai bàn tay trắng.

Lúc đó cô bé sinh năm 1939 không có giầy dép gì, nên được quân đội Anh cho một đôi giầy gỗ. Lớn lên bà học ngành sử chuyên về Đông Âu, văn hoá Slave và Hán học, được mời dậy ở đại học Stanford, viết cho báo Stuttgarter Zeitung, từ 1967 giữ chân ký giả báo Frankfurter Allgemeine Zeitung và từ 1971 viết cho báo Die Zeit.

Cảnh cơ cực của thuyền nhân tỵ nạn biến bàn tay cầm bút thành bàn tay hành động. Gabriele không coi đó là cuộc giằng co vai trò. "Cảnh cơ cực của thuyền nhân tỵ nạn vượt quá sức chịu đựng của chúng tôi".

Là ký giả bà mới chỉ quan sát những biến cố ở Phi châu hay Á châu. Nay bà dấn thân nhập cuộc. "Phải làm cho bằng được. Chúng tôi muốn tranh đấu phá đổ bức tường cản việc nhận người tỵ nạn. Và chúng tôi đã thành công". 

Trần Hoành

Dịch theo nguyên văn trên báo Die Zeit, số 34, ra ngày 13.8.2009, với sự đồng ý của tác giả và toà soạn.


Thursday, January 5, 2012

Sarah không bị truy tố tội giết người

Sarah McKinley  không bị truy tố giết kẻ xâm nhập gia cư bất hợp pháp:

BLANCHARD, Okla.—Authorities don't plan to file charges against an Oklahoma woman who fatally shot a New Year's Eve intruder at her house while she had a 911 dispatcher on the phone, but the intruder's alleged accomplice has been charged in the death.

A 911 tape released to Oklahoma City media outlets Wednesday reveals that 18-year-old Sarah McKinley asked a Grady County dispatcher for permission to shoot the intruder. McKinley's 3-month-old son was with her when she shot Justin Shane Martin, 24, at her Blanchard mobile home.

"I've got two guns in my hand. Is it OK to shoot him if he comes in this door?" McKinley asked the dispatcher.

"Well, you have to do whatever you can do to protect yourself," the dispatcher is heard telling McKinley. "I can't tell you that you can do that, but you have to do what you have to do to protect your baby."

Oklahoma law allows the use of deadly force against intruders, and prosecutors said McKinley clearly acted in self-defense. According to court documents, Martin was holding a knife when he died.

Wednesday, January 4, 2012

Ngậm sỏi để tập hùng biện

Ngm si đ tp hùng bin
Hà Xuân Thụ 

Lịch sử đã ghi Hitler tự tp ăn nói trước gương, nên khi nm được chính quyn Hitler đã x dng tài hùng bin mê hoc cả nước Đc. Dân chúng điên cung sn xut vô số vũ khí sát thương rồi Hitler đã gây ra Đ Nh Thế Chiến khng khiếp nht cho nhân loi. 

Và câu chuyn dưới đây mi chng t nhng kỳ tích ca mt vĩ nhân nước Athènes (Hy Lạp) mà tt c tài năng có được đu phi do từ chuyên cần luyn tp.
Nếu cảm thương cho dân Vit Nam khn kh xin quý v truyn bài hc này cho con cháu đ chúng t hun luyn thành nhng chàng trai tài ba yêu nước cứu quốc sau này.

Chuyện ông Démosthène

Cao Huy Thuần

Ngày trước, ở thế hệ chúng tôi, sách rất ít, cho nên đọc được gì thì như in vào lòng, nhớ suốt đời, nhất là những chuyện về danh nhân trong các sách giáo khoa bậc tiểu học.

Chuyện ông Démosthène mà tôi kể sau đây hình như nằm trong Quốc Văn Sơ Học Độc Bản, tôi không nhớ rõ. Ông cứ ám ảnh tôi, bây giờ còn hơn xưa.

Démosthène là nhà hùng biện tài ba nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại (384–322 BC). Hùng biện là thế nào, có ích lợi gì trong xã hội của tôi, thú thực lúc nhỏ tôi không biết, nên không quan tâm.

Nhưng cách ông Démosthène luyện tập để thành tài thì kích thích trí tưởng tượng của tôi đến tột độ.

Ông sinh ra bản chất ốm yếu, nhút nhát, lại mắc chứng cà lăm, nói năng lắp bắp. Vậy mà tiểu quốc Athènes, tổ quốc của ông, lại là xứ sở của dân chủ, trong đó lời nói là tinh hoa, tranh luận là nền móng.

Ôm hoài bão phục vụ tổ quốc, ông phải biết nói, trước hết là phải thắng cái tật cà lăm. Rồi phải nói cho lớn, cho hay, đánh bạt các tay hùng biện khác. Làm sao?

Làm sao luyện cái lưỡi để đừng lắp bắp? Ông ngậm sỏi trong miệng. Làm sao nói lớn? Ông nói trước sóng biển. Hàng ngày, ông cứ như thế, ngậm sỏi diễn thuyết trước ầm ầm tiếng sóng.

Nói lớn, hơi thở phải dài. Hơi thở dài thì ngực phải căng. Làm sao căng ngực? Ông ngày ngày tập chạy lên dốc, vừa chạy vừa đọc thật to, đọc thuộc lòng, những đoạn văn dài.

Chừng đó đã đủ làm tôi phục sát đất. Không cần kể thêm chi tiết này: ông tự giam mình suốt hai ba tháng trong hầm nhà để diễn thuyết một mình như thử nói trước công chúng. Và để khỏi phải đi ra ngoài, ông húi trọc một nửa đầu, như hề.

Tập nói đi đôi với tập viết. Lúc đầu, nói chưa được, ông viết thuê cho các tay hùng biện. Cách ông tập viết cũng ly kỳ. Ông chép tay tám lần cả quyển sử trứ danh của sử gia Thucydide để đọc thuộc lòng không vấp một chữ trọn tác phẩm "Lịch sử chiến tranh ở Péloponnèse".

Văn chương, triết lý, quân sự, chiến lược… tất cả tinh hoa của Hy Lạp nằm cả trong ấy. Sau này, các đối thủ của ông mỉa mai: "Văn chương của Démosthène hôi mùi bấc của đèn". Vì đêm nào ông cũng thức đến khuya!

Ông Démosthène lúc nhỏ của tôi là như vậy. Một tấm gương bền chí mà sách giáo khoa giáo dục cho chúng tôi.

Lờ mờ, tôi hiểu thêm: nghịch cảnh là cái lò rèn luyện nhân tài. Nhiều vĩ nhân mà tôi được biết, trong mọi lĩnh vực, đã xuất thân như thế, bắt đầu bằng chiến thắng những trở ngại bẩm sinh.

Vượt qua được chính mình thì mới vượt qua được thiên hạ. Những vết thương lúc thiếu thời, vật chất hoặc tinh thần, lắm khi là động lực làm bật ra mầm mống thiên tài ẩn khuất đâu đó ở bên trong.

Lớn lên thêm nữa, tôi lại biết thêm: với các dân tộc cũng vậy, chính nhờ sinh ra trong nghịch cảnh mà phát triển được khả năng sinh tồn, để mạnh, để bất khuất. Nghịch cảnh có thể là sa mạc thiếu nước. Có thể là đất đai thiếu tài nguyên. Có thể là sống bên cạnh đại quốc. Như Việt Nam của chúng ta!

Trở lại với nhân vật của tôi, bây giờ là ông Démosthène của tuổi già. Ngày xưa, ông dạy tôi bền chí. Bây giờ, ông để lại một tấm gương yêu nước, bất khuất.

Hùng biện đâu phải là mục đích của ông? Đó chỉ là phương tiện. Ông phải hùng biện để bảo vệ tự do, độc lập cho xứ sở của ông, để giữ vững nền dân chủ đặc biệt của Athènes, có một không hai trong lịch sử.

Cả cuộc đời của ông, ông hiến tặng cho cuộc chiến đấu, bằng hiệu triệu, bằng ngoại giao, bằng khí giới, chống lại mưu đồ bành trướng của nước láng giềng Macédoine hùng mạnh.

Vua Philippe của nước ấy là kẻ thù của ông. Dân chúng Athènes thờ ơ trước mộng bá quyền của Philippe? Ông hiệu triệu, ông động viên, ông thức dậy.

Các nước lân bang thù nghịch lẫn nhau, quên mất hiểm họa chung? Ông bôn ba đề nghị một thế liên hoàn. Ngay cả với Thèbes, vốn thù nghịch từ lâu, ông thuyết phục liên minh. Ông lập chương trình cải tổ tài chính, tăng cường hạm đội, xây dựng thành trì.

Trong suốt 14 năm, vua Philippe không tiến một bước nào mà không chạm vào mặt Démosthène. Bành trướng vừa lộ, Démosthène đã tố cáo trước nghị trường, với tài hùng biện, bây giờ không cần ngậm sỏi.

Nhưng Philippe không vội: ông thôn tính từ từ các nước chung quanh, để dành Athènes làm món tráng miệng cuối cùng.


Bao giờ cũng vậy, đế quốc nào ở bên ngoài cũng có đồng minh ở bên trong. Démosthène chủ chiến thì Macédoine dựa trên phe chủ hòa mà lãnh tụ là Eschine, cũng là tay hùng biện khét tiếng.

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, Eschine là thủ lãnh của phe thân Macédoine, phe cầm quyền.
Démosthène đứng ở thế đối lập. Ngay từ khi Philippe để lộ tham vọng bá quyền, Eschine đã chủ trương nhân nhượng, cầu hòa.

Ông thủ lãnh này bị thôi miên vì tài thao lược của Philippe và sức mạnh của Macédoine. Ông nghĩ: kẻ láng giềng kia mạnh quá, như nước lũ, không đê điều nào ngăn lại được, chi bằng hòa hoãn để nương thân với đế vương ngày mai.

Hai ông đem tài hùng biện ra bảo vệ quan điểm của mình, để lại cho hậu thế những bài diễn văn trác tuyệt.

Hết sức thuyết phục, Démosthène tố cáo đối thủ đã che dấu không cho dân biết dã tâm của kẻ thù ở bên kia biên giới để dân ham vui,  chọn hòa bình với bất cứ giá nào.

Một dân tộc thờ ơ với chính trị, ông nói, là con mồi ngon của tham vọng đế quốc. Một người không biết bảo vệ của cải của mình thì không xứng đáng được giữ của trong tay.

Chuyện gì phải đến thì cứ lừng lững đến thôi. Khi vó ngựa của Philippe đã rầm rập ngoài cửa ngõ, Athènes mới liên minh với Thèbes để làm châu chấu đá xe. Xe Macédoine đè nát Thèbes, đập vỡ Athènes, tất cả các tiểu quốc Hy Lạp nằm trọn trong bụng Philippe.

Ông đế vương này vừa có tài thao lược vừa có tài chính trị: chiến thắng xong, ông chỉ buộc Athènes gia nhập một liên hiệp, một thứ cộng đồng các quốc gia đặt dưới quyền ông. Một kiểu "tự do" không có độc lập như Việt Nam ta từng biết.

Tất nhiên, người lãnh vai trò điều đình với Philippe là Eschine.  Démosthène cố quật khởi lên hai lần. Một lần khi Philippe chết, bị ám sát. Ông kêu gọi dân chúng vùng lên, thúc đẩy các tiểu quốc nổi dậy, cung cấp khí giới cho Thèbes.

Nhưng người kế vị Philippe lại còn anh hùng hơn cha, nổi danh trong lịch sử với tên Alexandre đại đế (330 B.C.). Đại đế dẹp yên khởi nghĩa, Démosthène lại lưu vong.

Lần thứ hai, sau khi Alexandre chết, Démosthène được dân chúng gọi về, tiếp đón trong vinh quang. Ông lại liên minh, lại chiêu binh mãi mã, lại dàn trận. Trận vỡ, ông bị vây trong một đền thờ, tướng của Macédoine muốn dụ ông hàng để thu phục, ông cười.


Lịch sử ghi nhận tài ba của Démosthène như nhà hùng biện, như nhà chính trị, như nhà lãnh tụ.

Riêng tôi, tôi cứ nhìn ông với mắt trẻ thơ ngày xưa, và dưới mắt trẻ thơ, tôi xem ông như một nhà giáo dục, giáo dục với cái nghĩa tinh khôi nhất, nghĩa là không phải dạy bằng chữ mà bằng chính con người của mình, cuộc đời của mình, ý chí của mình, đức hạnh của mình.

Ông dạy gì tôi bây giờ? Hãy yêu nước như một cục than hồng vùi dưới tro, tưởng tắt nhưng vẫn nóng bỏng, gặp gió là thành lửa. Đừng đem thành công hay thất bại mà luận anh hùng.

Dân chúng Athènes có chính danh định phận ông như vậy đâu! Họ ghi khắc gì nơi tượng của ông? Một con người có đức tính, một con người bất khuất: "Démosthène, nếu ông có sức mạnh ngang tầm với thiên tài của ông, không bao giờ thần chiến tranh Macédoine khuất phục được Hy Lạp".

Con người đó, đức tính đó, kẻ thù của ông cũng kính phục. Vua Phillipe nói gì về ông với tả hữu? "Nếu có người dân Athènes nào chọn quyền lợi của ta thay vì quyền lợi của tổ quốc họ, ta sẵn sàng ban cấp vàng bạc, nhưng chẳng bao giờ ta xem như bạn.

Ngược lại, người nào nổ tức giận trên đầu ta vì tổ quốc của họ, ta tuyên chiến, ta tấn công như tấn công thành trì, hào lũy, nhưng ta kính phục đức hạnh, ta thèm khát hạnh phúc của xứ sở đã sinh ra được một công dân như thế…

Khí giới, tàu bè của Athènes, ta xem như trò con trẻ. Đánh chác gì được bọn ấy, chỉ biết ăn nhậu, tiệc tùng, nhảy múa.

Nếu chúng nó không có Démosthène, ta đã chiếm xứ sở của chúng như đã đè bẹp Thèbes và Thessalie: chỉ cần chút mưu chước, bạo lực, bất ngờ, tiền bạc là đủ".


Cũng đừng tưởng con người ấy chết thì cục than hồng tắt. Vẫn cháy thành lửa! Khi viên tướng Macédoine dụ hàng không được và muốn bắt ông, ông nói: "Đừng động đến ta. Để ta lạy thần rồi ta sẽ theo ông".

Nhưng kín đáo, ông cho viên thuốc vào miệng, viên thuốc độc mà ông luôn mang theo bên mình để chết với tự do. Đứng dậy, lảo đảo, ông nói tiếp: "Ngươi đem cái xác này về cho chủ của ngươi, nhưng ngươi không đem được Démosthène".

Ông chết, vẫn là nhà giáo dục. Ông dạy gì? Này, Macédoine, đừng tưởng Athènes chỉ là bọn đầu hàng!

Trích t email ca bn Đng Đình Tuân





















Tuesday, January 3, 2012

Derick Võ huy chương Vàng cho USA

Derick Võ huy chương Vàng cho USA

Copy từ email của bạn Ngô Đức Tựu
Derick Võ vừa giành được chiếc huy chương Vàng của cuộc thi võ Jr Pan American Championships tại Brazil với tư cách đại diện của Hoa Kỳ hồi đầu tháng 9 năm nay.


Sau khi làm rạng danh nước Mỹ, và một phần cho người Việt, không ít bài báo đăng tin về võ sĩ trẻ tuổi tài cao này.

Tuy mới 13 tuổi nhưng Derick hiện đã lên được Nhị đẳng, 7 năm liền vô địch quốc gia Karate tại Mỹ, chiến thắng luôn các giải US Open, Junior Olympic, Pan American Champion và còn nhiều giải đấu khác.

Nhưng đằng sau những chiến công ấy là cả một quá trình luyện tập vất vả gian khổ. Điển hình tại cuộc thi Jr Pan American Championships vừa rồi, Derick phải chăm chỉ luyện tập ròng rã suốt 6 tháng hè.

Dưới đây là phỏng vấn trực tiếp:



Kinh hoàng cho dân chúng VNCH

“GIẢI PHÓNG” Nỗi Kinh Hoàng Của Người Dân Nam Việt.

Đồng Tháp 36 năm sau ngày những người cộng sản chúng tôi cướp nước của người Miền nam

TS Lê Hiển Dương

Kính thưa quý vị,

Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng:

Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Kitô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế.

Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng.

Chẳng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên…, Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế.

Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này…

Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì?

Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…


Còn nhớ ngày 30 Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kềm, Mỹ hãm” nữa…

Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi…

Số là mỗi tuần một lần. Chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược.

Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa, để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước…

Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thưởng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó.

Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích đã ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…

Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!

Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh. Tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi. Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”.

Và biết được thế nào là lavabo hay hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…

Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã…

Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”

Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó…

Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng miền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…

Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà…

“Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi…

Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa…

Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc!

Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh …

Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.

Tiến Sỹ Lê Hiển Dương
Cựu Hiệu Trưởng-Đại Học Đồng Tháp



Sunday, January 1, 2012

Những con đường độc đáo

Những con đường độc đáo 

Trích từ email bạn Đặng Đình Tuân